Chào mừng Quý bạn đọc đến với Trang thông tin điện tử Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Trà Vinh! - Trang thông tin điện tử đang trong quá trình xây dựng và cập nhật thông tin, rất mong nhận được sự góp ý và quan tâm của Quý bạn đọc!
90 tình huống giải đáp về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật
Lượt xem: 1385

1. Khi chấm điểm nội dungBan hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để quy định những vấn đề được luật giao” của Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 1, xã A chỉ tiến hành rà soát, đánh giá kết quả ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân mà không rà soát, đánh giá kết quả đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân ban hành. Đề nghị cho biết xã A thực hiện đánh giá có đúng không? Cần đánh giá loại văn bản quy phạm pháp luật nào mà cấp xã cần phải ban hành để quy định những vấn đề được luật giao?

Trả lời:

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để quy định những vấn đề được luật giao là nội dung thành phần có điểm số tối đa của nội dung này là 01 điểm. Theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP, phạm vi, đối tượng đánh giá của nội dung nêu trên cần được hiểu là những văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của chính quyền cấp xã, bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo Điều 3, Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, có 02 hình thức văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành để quy định những vấn đề được luật giao Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã và Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Do đó, việc xã A chỉ tiến hành rà soát, đánh giá kết quả ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân xã ban hành để quy định những vấn đề được luật giao là chưa đầy đủ mà cần phải tiến hành rà soát, đánh giá kết quả ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân xã ban hành trong năm. Căn cứ kết quả đánh giá và mức độ hoàn thành kế hoạch đề ra và điểm số trong Phụ lục kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP để chấm điểm cụ thể.

2. Đề nghị hướng dẫn thêm các tài liệu, căn cứ để kiểm chứng kết quả chấm điểm nội dung “Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để quy định những vấn đề được luật giao”

Trả lời:

Trước hết, việc kiểm chứng kết quả chấm điểm, đánh giá nội dung “ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để quy định những vấn đề được luật giao” có thể dựa vào các tài liệu như: Kế hoạch, văn bản của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp xã trong đó xác định nhiệm vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hình thức văn bản, tiến độ xây dựng, cấp trình ban hành…trong năm đánh giá để xem trong năm đó có hay không việc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã phải ban hành văn bản, số lượng, hình thức, tên gọi cụ thể của từng văn bản như thế nào? Sau đó cần rà soát để xác định cụ thể số lượng, hình thức, tên gọi của văn bản đã được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo kế hoạch để xác định xem việc ban hành đã đầy đủ, kịp thời so với kế hoạch đã đề ra hay chưa).

3. Năm 2017, phường K đã xảy ra một vụ án giết người nhưng người  thực hiện hành vi phạm tội không cư trú tại phường. Khi chấm điểm nội dung “Không để xảy ra trọng án trên địa bàn cấp xã”, có ý kiến cho rằng do người phạm tội không cư trú tại phường K nên không đánh giá trách nhiệm của phường trong việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội; nếu chấm 0 điểm cho phường thì chưa khách quan. Đề nghị cho biết những vụ án nào được gọi là “trọng án” và việc chấm điểm nội dung nêu trên cần lưu ý vấn đề gì?

Trả lời:

Không để xảy ra trọng án trên địa bàn cấp xã là một trong những nội dung thành phần của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 1 (Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật). Điểm số tối đa của nội dung này là 02 điểm. Khi đánh giá, chấm điểm nội dung này, cần lưu ý như sau:

Theo khoản 3 Điều 3 Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân thì trọng án là vụ án hình sự về tội phạm quy định tại các điều 93, 95, 96; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều 104, 111, 112, 113, 114, 133, 134, 135 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cụ thể là: Tội giết người; tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội hiếp dâm; tội hiếp dâm trẻ em; tội cưỡng dâm; tội cưỡng dâm trẻ em; tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội cưỡng đoạt tài sản. Các tội này hiện được quy định tại các điều: 123, 125, 126, 134, 141, 142, 143, 144, 168, 169, 170 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Vì vậy, năm 2017 do phường K đã để xảy ra “trọng án” trên địa bàn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên sẽ không được tính điểm nội dung này dù người phạm tội cư trú hay không cư trú trên địa bàn phường.

4. Trong quá trình kiểm tra, thẩm định hồ sơ đề nghị xem xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã V, tôi phát hiện trong năm đánh giá trên địa bàn xã để xảy ra một vụ án giết người. Tuy nhiên, cả nạn nhân và người gây án lại cùng cư trú ở xã N (xã này cũng đang đánh giá, đề nghị xét công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật). Xin hỏi, trong trường hợp này, xã V hay xã N không được chấm điểm đối với nội dung “Không để xảy ra trọng án trên địa bàn cấp xã?

Trả lời:

Căn cứ khoản 3 Điều 3 Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân, vụ án giết người xảy ra trên địa bàn xã V trong trường hợp nêu trên được xác định là “trọng án” (tham khảo Câu số 3 tại Tài liệu này).

Theo quy định tại Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP, trường hợp của xã V và xã N được vận dụng, giải quyết như sau:

- Đối với xã V: Nếu có đủ cơ sở căn cứ để xác định vụ án giết người đó xảy ra trên địa bàn xã thì căn cứ vào quy định tại chỉ tiêu 2 tiêu chí 1 Phụ lục kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP để kiểm tra kết quả tự đánh giá, chấm điểm của xã có chính xác, đúng với quy định hay không làm căn cứ để xác định điểm số cụ thể của tiêu chí

- Đối với xã N: Do người gây án cư trú tại địa bàn xã, nên cũng có liên quan đến kết quả tự đánh giá và chấm điểm. Nội dung 3 hoặc nội dung 4 của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 1 cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: i) Địa bàn để xảy ra tội phạm, tệ nạn xã hội (gắn với địa giới hành chính của cấp xã); ii) Chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng quản lý của cấp xã (gắn với trách nhiệm quản lý dân cư), mà với trường hợp trên đối tượng phạm tội chịu sự quản lý về cư trú của xã N.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, việc xảy ra trọng án đều ảnh hưởng đến kết quả đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của cả xã V và xã N. Mặc dù địa điểm xảy ra tội phạm và chủ thể của tội phạm không cùng trên một địa bàn nhưng qua đó đã phản ánh tình hình đảm bảo trật tự an toàn xã hội, quản lý công dân của các xã. Vì vậy, khi đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật, xã V sẽ không được điểm tối đa nội dung 2 của Chỉ tiêu 2, còn xã N sẽ bị ảnh hưởng tới kết quả chấm điểm tại nội dung 3 hoặc nội dung 4 của Chỉ tiêu này.

5. Khi tiến hành rà soát, đánh giá, chấm điểm nội dung “Về khiếu nại, tố cáo kéo dài” của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 1, kết quả tổng hợp năm 2017 của xã X cho thấy đã giảm được 02 vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài so với năm 2016. Nhưng hiện nay các văn bản mới quy định 03 mức điểm tương ứng với các mức độ về thực trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài mà chưa hướng dẫn phương pháp thực hiện như thể nào? Đề nghị hướng dẫn thêm  cách xác định kết quả khiếu nại, tố cáo kéo dài?

Trả lời:

“Về khiếu nại, tố cáo kéo dài” là một nội dung quan trọng nhằm đánh giá thực trạng về kết quả, tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo kéo dài nói riêng trên địa bàn cấp xã. Nội dung này thuộc Chỉ tiêu 3 của Tiêu chí 1 với điểm số tối đa là 01 điểm.

Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Luật Khiếu nại năm 2011).

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Luật Tố cáo năm 2011).

Các Luật nêu trên không quy định thế nào là khiếu nại kéo dài, tố cáo kéo dài. Nhưng qua khái niệm về khiếu nại, tố cáo có thể hiểu khiếu nại, tố cáo kéo dài là các khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết theo thủ tục do Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo quy định nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo hoặc các khiếu nại, tố cáo đã được tiếp nhận nhưng không giải quyết theo đúng thời hạn do luật quy định mà để chậm, kéo dài thời hạn.

Theo đó, khi đánh giá, chấm điểm nội dung nêu trên cần lưu ý một số điểm như sau:

- Việc đánh giá, chấm điểm phải dựa vào số lượng khiếu nại, tố cáo kéo dài thực tế trong năm đánh giá (các khiếu nại, tố cáo này phải thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp xã)

-  Trên cơ sở số lượng khiếu nại, tố cáo kéo dài trong năm đánh giá và số lượng khiếu nại, tố cáo kéo dài của năm trước liền kề năm đánh giá, cần so sánh, đánh giá và đưa ra nhận định về kết quả khiếu nại, tố cáo kéo dài trong năm đánh giá là “tăng” hay “giảm”. Từ đó xác định mức điểm cụ thể của nội dung “ khiếu nại, tố cáo kéo dài”. Trường hợp số lượng năm đánh giá bằng năm trước liền kề thì xác định là “không giảm” và tương ứng với mức 0 điểm.

6. Tại Chỉ tiêu 3 của Tiêu chí 1 có nội dung “Khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận, giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn”. Xin hỏi, dựa vào văn bản, quy định nào để xác định kết quả thực hiện nội dung này?

Trả lời:

Nội dung “khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận, giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn” theo chỉ tiêu 3 của Tiêu chí 1 có điểm số tối đa là 03 điểm và việc chấm điểm dựa vào kết quả của tổng số khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn so với tổng số khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền (công thức chấm điểm nội dung này được quy định tại Phụ lục I Thông tư số 07/2017/TT-BTP).

Để xác định một khiếu nại, tố cáo cụ thể nào đó đã được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định hay chưa, cần căn cứ vào các văn bản pháp luật quy định về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đó là Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này. Đây là cơ sở để đánh giá kết quả, trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ví dụ: Thời hạn giải quyết tố cáo căn cứ vào Điều 21 Luật Tố cáo năm 2011; thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu căn cứ vào Điều 28 Luật Khiếu nại năm 2011....  Tương tự, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng vậy, cần căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật để đối chiếu, xác định mức độ có tuân thủ đầy đủ, kịp thời hay không

Để chấm điểm đối với nội dung nêu trên, công chức được giao làm đầu mối theo dõi, đánh giá, chấm điểm cần dựa vào sổ theo dõi, tiếp nhận, trả kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo để xác định tổng số khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn và tổng số khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận, thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Ví dụ: Trong năm đánh giá, xã V đã tiếp nhận, thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền 20 khiếu nại, tố cáo, trong đó có 16 khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định. Vậy, tỷ lệ % = (16/20) x 100 = 80%;  điểm số đạt được = (80 x 3)/100 = 2,4 điểm.

7. Đề nghị cho biết căn cứ pháp lý và cơ sở để chấm điểm nội dung “Thủ tục hành chính được niêm yết công khai đầy đủ theo quy định” tại Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 2?

 Trả lời:

- Thủ tục hành chính được hiểu là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức. Ví dụ: Thủ tục đăng ký kết hôn, thủ tục đăng kí khai sinh, thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính...

- Căn cứ pháp lý xác định để chấm điểm nội dung này gồm: Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chỉnh phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các văn bản có liên quan.

8. Tôi được giao nhiệm vụ theo dõi, đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu “Bố trí địa điểm, công chức tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính theo quy định”. Các nội dung thành phần của chỉ tiêu này được quy định theo hướng chung chung là đảm bảo “theo quy định”. Xin hỏi, văn bản pháp luật nào là cơ sở để đánh giá chỉ tiêu này ?

Trả lời:

Để chấm điểm, đánh giá chỉ tiêu nêu trên cần căn cứ vào Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Tại Điều 9 của Quyết định này quy định cụ thể về diện tích làm việc và trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã:

a) Về diện tích làm việc tối thiểu của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:

- Của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: 40m2;

- Của Ủy ban nhân dân cấp huyện: 80m2;

- Của Ủy ban nhân dân cấp xã: 40m2;

Trong tổng diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải dành khoảng 50% diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch.

b) Về trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

- Trang thiết bị chung

Căn cứ vào tính chất công việc của mỗi cấp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trang thiết bị cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, mức tối thiểu phải có máy vi tính, máy photocopy, máy fax, máy in, điện thoại cố định, ghế ngồi, bàn làm việc, nước uống, quạt mát hoặc máy điều hòa nhiệt độ và các trang thiết bị cần thiết khác để đáp ứng nhu cầu làm việc và yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước;

- Trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại

Được đặt tại vị trí trang trọng của cơ quan hành chính nhà nước, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện các giao dịch hành chính; Được bố trí khoa học theo các khu chức năng, bao gồm: Khu vực cung cấp thông tin, thủ tục hành chính; khu vực đặt các trang thiết bị điện tử, kể cả máy lấy số xếp hàng tự động, tra cứu thông tin, thủ tục hành chính, tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính; khu vực tiếp nhận và trả kết quả được chia thành từng quầy tương ứng với từng lĩnh vực khác nhau; bố trí đủ ghế ngồi chờ, bàn để viết dành cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch; Có phần cứng của hạ tầng công nghệ thông tin và các thiết bị chuyên dụng theo quy định; có đủ điều kiện để thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; áp dụng phần mềm điện tử theo quy định.

Điều 10 Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg quy định về công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (về yêu cầu, trách nhiệm, quyền lợi…):

* Về yêu cầu:

- Đội ngũ công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo đủ về số lượng và có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp đáp ứng yêu cầu công việc;

- Có phẩm chất, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao;

- Có tác phong, thái độ chuẩn mực, có khả năng giao tiếp tốt với cá nhân, tổ chức.

* Về trách nhiệm

- Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hành chính;

- Hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần;

- Tiếp nhận hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức theo quy định;

- Chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không khả thi hoặc không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương;

- Mặc đồng phục trong quá trình thực thi nhiệm vụ;

- Thực hiện các quy định khác của pháp luật.

* Về quyền lợi

- Được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ và văn hóa ứng xử, giao tiếp với cá nhân, tổ chức;

- Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định.

Căn cứ vào các quy định trên và thực tế diện tích làm việc, trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cũng như việc đáp ứng về yêu cầu và trách nhiệm của công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu này. Lưu ý trường hợp nếu Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả không bố trí, không bảo đảm yêu cầu, trách nhiệm theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg thì sẽ bị trừ 0,25 điểm.

9. Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ sở để Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết các thủ tục hành chính. Nếu sau khi ký ban hành và công bố, cấp tỉnh chậm phát hành Quyết định này đến cấp xã thì sẽ ảnh hưởng đến tiến độ niêm yết các thủ tục hành chính và cấp xã sẽ không đạt điểm tối đa đối với nội dung “Thủ tục hành chính được niêm yết công khai kịp thời theo quy định”. Xin hỏi, việc chấm điểm đối với nội dung này khi Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành nhưng cấp xã vẫn chưa nhận được Quyết định để niêm yết theo quy định?

Trả lời:

Căn cứ Thông tư số 07/2017/TT-BTP, nội dung 2 của Chỉ tiêu 1 về “Công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính” chỉ đạt được điểm số tối đa khi thực hiện niêm yết công khai thủ tục hành chính đúng ngày Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.

 Theo khoản 1 Điều 10 Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện thủ tục hành chính thì việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Như vậy, về nguyên tắc, việc thực hiện niêm yết thủ tục hành chính của cấp xã bị chậm vì lý do cấp tỉnh phát hành chậm Quyết định công bố thủ tục hành chính vẫn không được cho điểm tối đa. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành việc đánh giá tổng thể các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã cần tổng hợp, đề xuất, kiến nghị với cấp huyện, cấp tỉnh về việc phát hành Quyết định công bố thủ tục hành chính để không làm ảnh hưởng đến kết quả chấm điểm, đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật của cấp xã; tạo cơ sở cho cấp xã phấn đấu đạt điểm tối đa trong công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính theo quy định. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần có giải pháp để khắc phục thực trạng này như: Đăng tải toàn văn Quyết định này trên Cổng Thông tin điện tử của tỉnh để cấp xã biết và niêm yết…

10. Đề nghị hướng dẫn thêm các tài liệu làm căn cứ và vấn đề lưu ý khi chấm điểm nội dung “thủ tục hành chính được niêm yết công khai đầy đủ theo quy định”?

Trả lời:

Thủ tục hành chính được niêm yết công khai đầy đủ theo quy định là nội dung thành phần của chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 2. Nội dung này có điểm số tối đa là 02 điểm. Điểm số của nội dung này được xác định bằng tỷ lệ % theo công thức: Tỷ lệ % = (Tổng số thủ tục hành chính được niêm yết công khai/Tổng số thủ tục hành chính phải niêm yết công khai) x 100.

Về các tài liệu, các bước tiến hành chấm điểm nội dung nêu trên, có thể thực hiện theo hướng dẫn như sau:

- Bám sát Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xác định nội dung, số lượng thủ tục hành chính mà Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm trực tiếp tiếp nhận, giải quyết. Nội dung, slượng thủ tục hành chính mà Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tiếp nhận, giải quyết cũng chính là nội dung, số lượng thủ tục hành chính phải thực hiện niêm yết công khai đầy đủ, kịp thời theo quy định của Thông tư số 07/2017/TT-BTP.

- Để xác định tổng số thủ tục hành chính đã được niêm yết công khai trên thực tế trong năm đánh giá cần căn cứ vào sổ theo dõi, phần mềm điện tử về thủ tục hành chính, báo cáo kết quả 06 tháng, năm của cấp xã hoặc tài liệu, hồ sơ khác mà công chức chuyên môn của cấp xã được giao theo dõi, tiếp nhận, tham mưu giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Vận dụng công thức tính tỷ lệ % theo quy định của Thông tư số 07/2017/TT-BTP để xác định kết quả thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính theo thẩm quyền trong năm đánh giá và xác định điểm số tương ứng với kết quả đó.

Ví dụ: Theo Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, 80 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã. Trong năm đánh giá 2017 (tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12/2017), Ủy ban nhân dân cấp xã đã thực hiện niêm yết công khai 60 thủ tục hành chính. Như vậy, tỷ lệ % đạt được là (60/80) x 100 = 75%, điểm số được chấm tương ứng với tỷ lệ này là: (75 x 2)/100 = 1,5 điểm.

11. Trong chỉ tiêu 3 của Tiêu chí 2 có nội dung “giải quyết các thủ tục hành chính đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định”. Xin hỏi cần căn cứ vào văn bản, quy định nào để xác định các thủ tục hành chính được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn để việc chấm điểm đúng quy định của Quyết định số 619/QĐ-TTg?

Trả lời:

Giải quyết các thủ tục hành chính đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định là 1 trong 5 chỉ tiêu thuộc Tiêu chí 2 của Quyết định số 619/QĐ-TTg. Chỉ tiêu này nhằm đánh giá kết quả, trách nhiệm của chính quyền và công chức cấp xã trong thực thi các quy định của pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính; giúp cho chính quyền và công chức cấp xã đề ra được giải pháp phù hợp nhằm khắc phục hạn chế, tăng cường trách nhiệm và nâng cao hiệu quả giải quyết các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền, qua đó góp phần bảo đảm, thực hiện các quyền của công dân trong giải quyết thủ tục hành chính.

Chỉ tiêu này có điểm số tối đa là 10 điểm. Để xác định một thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp xã đã được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của pháp luật, cần căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật (bộ luật, luật, nghị định, quyết định, thông tư...) hướng dẫn thực hiện hoặc có quy định về thủ tục hành chính đó. Đây là cơ sở quan trọng để nhận định, đánh giá mức độ và kết quả giải quyết các thủ tục hành chính.

Ví dụ: Khi đánh giá, chấm điểm kết quả giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh. Cần phải căn cứ Bộ thủ tục hành chính (thủ tục đăng ký khai sinh đã được công bố), Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ, Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp và đối chiếu với kết quả giải quyết việc này trên thực tế (về trình tự, thủ tục, thời hạn) để xác định tỷ lệ thủ tục hành chính về khai sinh trong năm đã được giải quyết đúng quy định hay chưa.

12. Khi đánh giá, chấm điểm nội dung “các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định” theo Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 3 về Hòa giải ở cơ sở, xã K không tính kết quả hòa giải các tranh chấp về quyền sử dụng đất vì cho rằng tranh chấp này thuộc phạm vi hòa giải của Hội đồng hòa giải ở cơ sở theo Luật Đất đai. Còn xã M lại tính cả vụ, việc hòa giải từ tranh chấp quyền sử dụng đất, nhưng vì đa số tranh chấp về quyền sử dụng đất phức tạp, khó hòa giải, dẫn đến số điểm đánh giá của xã M thấp hơn xã K. Xin hỏi, việc đánh giá, chấm điểm của xã K hay xã M là đúng quy định?

Trả lời:

Trước hết, để nhận định cách tổng hợp, rà soát, đánh giá kết quả các vụ, việc hòa giải ở cơ sở của xã K hay xã M là đúng theo quy định của Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP, cần căn cứ vào quy định về phạm vi hòa giải ở cơ sở theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn. Theo đó, điểm b, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở quy định một trong những nhóm mâu thuấn, tranh chấp thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở là: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất.

 Do đó, khi đánh giá, chấm điểm nội dung nêu trên của Chỉ tiêu 2 cần phải tính cả kết quả thực hiện hòa giải các tranh chấp này như xã M đã làm là đúng với quy định. Còn xã K loại bỏ tranh chấp về quyền sử dụng đất trong đánh giá, chấm điểm như tình huống đã nêu là chưa thực hiện đúng, nên phải rà soát, chấm điểm lại Chỉ tiêu này.

13. Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 3 có quy định về “Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức cấp trên”. Đề nghị cho biết theo Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 3 thì loại văn bản quy phạm pháp luật nào cấp xã cần phải tổ chức lấy ý kiến?

Trả lời:

Khi đánh giá Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 3 cần chú ý xác định loại văn bản quy phạm pháp luật sau đây cần tổ chức lấy ý kiến Nhân dân:

- Theo quy định của Điều 142, Điều 144 Luật Ban hành quy phạm pháp luật năm 2015, trong quá trình soạn thảo, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân và dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc lấy ý của cơ quan, tổ chức có liên quan, của Nhân dân trên địa bàn cấp xã về dự thảo văn bản.

- Ngoài ra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã còn phải tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện yêu cầu cấp xã phải tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Mặc dù văn bản này không do chính quyền cấp xã ban hành nhưng nội dung của văn bản có tác động, liên quan đến đến toàn bộ người dân trong cả nước (ví dụ như: dự thảo Hiến pháp, dự thảo Bộ luật Dân sự, dự thảo Bộ luật hình sự…) hoặc người dân ở một địa phương cụ thể (các văn bản quy phạm pháp luật do cấp tỉnh, cấp huyện ban hành), cơ quan có thẩm quyền cấp trên sẽ xem xét, quyết định tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của Nhân dân. Trên cơ sở chỉ đạo của cấp trên, chính quyền cấp xã phải tổ chức việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự thảo văn bản được gửi lấy ý kiến.

14. Đề nghị cho biết những trường hợp nào thì nhiệm vụ “tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức cấp trên” được tính điểm tối đa theo quy định?

Trả lời

Theo Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 3 của Phụ lục kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, có 02 trường hợp được tính điểm tối đa (02 điểm) khi thực hiện nhiệm vụ “tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức cấp trên”, cụ thể như sau:

- Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với tất cả dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.

- Trong năm đánh giá không được giao nhiệm vụ lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (do chính quyền cấp xã không triển khai thực hiện nhiệm vụ này vì lý do khách quan).

15. Qua rà soát, chấm điểm nội dung 2 “Tổ chức thực hiện các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân trên địa bàn cấp xã bằng hình thức phù hợp theo Kế hoạch đề ra của chỉ tiêu 5 thuộc Tiêu chí 3 trên địa bàn xã M cho thấy có 90% hoạt động đề ra theo Kế hoạch đã được tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả. Còn 10% hoạt động cũng đã thực hiện nhưng chậm tiến độ, hiệu quả chưa cao. Vì vậy xã M đã chấm nội dung này ở mức 1,5 điểm. Xã D thực hiện 85% hoạt động theo kế hoạch bảo đảm kịp thời, hiệu quả, còn 15% hoạt động triển khai chậm nhưng đem lại kết quả, tác động tốt hơn, nên xã D chấm 1,5 điểm. Đề nghị cho biết kết quả chấm điểm số của các xã đã phù hợp hay chưa?

Trả lời:

Tại Phụ lục I ban hành kèm Thông tư số 07/2017/TT-BTP, nội dung “tổ chức thực hiện các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân trên địa bàn cấp xã bằng hình thức phù hợp theo Kế hoạch đề ra” quy định 04 mức độ đánh giá kết quả và có điểm số tương ứng với mỗi mức độ đó, cụ thể như sau:

- Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch: điểm tối đa là 3,5 điểm

- Tổ chức thực hiện chưa đầy đủ hoặc chưa kịp thời hoặc chưa hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch: điểm tối đa là 1,5 điểm

- Tổ chức thực hiện chưa đầy đủ, chưa kịp thời, chưa hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch: điểm tối đa là 0,5 điểm

- Không tổ chức thực hiện các hoạt động theo Kế hoạch: 0 điểm

Theo quy định nêu trên, để đạt được số điểm tối đa 3,5 điểm, cấp xã phải đáp ứng 02 yêu cầu: i) 100% hoạt động theo Kế hoạch được triển khai thực hiện đảm bảo kịp thời, đúng tiến độ; ii) 100% hoạt động theo Kế hoạch được triển khai thực hiện có hiệu quả, tác động tích cực.

Xã M có tỷ lệ hoàn thành hoạt động theo Kế hoạch tốt hơn nhưng hoạt động triển khai chậm tiến độ của xã D lại đạt hiệu quả hơn hoạt động chậm tiến độ của xã M. Đối chiếu quy định của Thông tư số 07/2017/TT-BTP, xã M và xã D mặc dù có kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch được xác định bằng tỷ lệ % có khác nhau, nhưng cả hai xã đều không bảo đảm hoàn thành 100% hoạt động theo Kế hoạch nên việc chấm 1,5 điểm tương ứng với mức độ “tổ chức thực hiện chưa đầy đủ hoặc chưa kịp thời hoặc chưa hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch” là phù hợp.

16. Xin hỏi, cách tính điểm nội dung về “Xây dựng, quản lý, khai thác có hiệu quả Tủ sách pháp luật (truyền thống hoặc điện tử), Tủ sách cơ sở ở cấp xã theo quy định” được xác định như thế nào?

Trả lời:

Xây dựng, quản lý, khai thác có hiệu quả Tủ sách pháp luật (truyền thống hoặc điện tử), Tủ sách cơ sở ở cấp xã là nội dung 2 của Chỉ tiêu 7 thuộc Tiêu chí 3. Điểm số tối đa của nội dung này là 03 điểm. Cách chấm, xác định điểm số cụ thể của nội dung này sẽ dựa vào kết quả thực tế đạt được trên 05 nội dung ban hành tại Phụ lục I Thông tư số 07/2017/TT-BTP. Trong đó có 04 nội dung có liên quan trực tiếp tới mô hình Tủ sách pháp luật cấp xã được xây dựng, quản lý theo Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, sử dụng Tủ sách pháp luật. Còn 01 nội dung có liên quan đến tủ sách /ngăn sách/túi sách pháp luật tại cộng đồng dân cư với vai trò là mô hình tủ sách tự quản ở cộng đồng như: Tủ sách của thôn, tổ dân phố; Tủ sách khu nhà trọ; Tủ sách quán cà phê...

Vì vậy, khi đánh giá, chấm điểm nội dung nêu trên, cần lưu ý điểm quy định cho từng nội dung là tối đa. Điểm thực tế đạt được xác định dựa trên kết quả thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến tủ sách pháp luật cấp xã, tủ sách cộng đồng. Đó là việc bố trí địa điểm đặt tủ sách, phân công cán bộ phụ trách; rà soát, phân loại, bổ sung sách, tài liệu; sử dụng máy tính nối mạng internet, hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật để tra cứu, khai thác văn bản, tài liệu pháp luật; thực hiện thông tin, giới thiệu sách, tài liệu mới… Nếu chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu có thể cho điểm số thấp hơn mức điểm tối đa để bảo đảm tính khách quan, thực chất trong đánh giá, chấm điểm.

17. Tại nội dung 3 của Chỉ tiêu 7 thuộc Tiêu chí 3 có xác định mô hình Câu lạc bộ tham gia PBGDPL. Khi đánh giá và chấm điểm, có ý kiến cho rằng phải có đủ các mô hình Câu lạc bộ như quy định tại nội dung này thì mới được tính điểm tối đa. Bên cạnh đó, đối với nội dung về hỗ trợ hoạt động của Câu lạc bộ cũng rất khó đánh giá do nguồn lực, ngân sách cấp xã còn hạn chế. Đề nghị hướng dẫn cụ thể cách đánh giá, chấm điểm nội dung này?

Trả lời:

Nội dung 3 của chỉ tiêu 7 thuộc Tiêu chí 3 được quy định nhằm đánh giá thực trạng, kết quả của việc khai thác, huy động, hỗ trợ mạng lưới Câu lạc bộ tham gia phổ biến, cung cấp thông tin pháp luật cho người dân. Mạng lưới câu lạc bộ bao gồm: câu lạc bộ pháp luật; câu lạc bộ phòng, chống tội phạm; câu lạc bộ nông dân, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh hoặc câu lạc bộ khác. Nội dung này có điểm số tối đa là 01 điểm và được đánh giá trên 02 nội dung có liên quan tới trách nhiệm của chính quyền cấp xã: i) Định hướng nội dung khai thác, huy động câu lạc bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật; ii) Hỗ trợ hoạt động của câu lạc bộ (có thể là hỗ trợ kinh phí, tài liệu…), hỗ trợ sinh hoạt pháp luật định kỳ có hiệu quả, thiết thực.

Khi đánh giá, chấm điểm các nội dung nêu trên, cần lưu ý một số điểm như sau:

- Điểm quy định cho từng nội dung là điểm tối đa. Căn cứ kết quả thực tế đạt được để xác định mức điểm phù hợp, bảo đảm cho việc đánh giá và chấm điểm được thực hiện nghiêm túc, thực chất, khách quan. Có thể cho điểm tối đa nếu làm tốt vượt mức kế hoạch; nếu chưa đáp ứng các yêu cầu đề ra thì cho điểm ở mức thấp hơn, thậm chí có thể là 0 điểm nếu không hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu đề ra.

- Không nhất thiết phải có đầy đủ các mô hình câu lạc bộ, vì đây là mô hình tự nguyện do cộng đồng tự quản, được thành lập, duy trì theo yêu cầu thực tiễn của từng địa bàn. Việc đánh giá, chấm điểm tập trung chủ yếu vào các hoạt động có liên quan đến trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc định hướng, hỗ trợ câu lạc bộ (nếu có trên địa bàn để thu hút huy động mạng lưới người tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

18. Ở địa phương tôi hiện nay một số địa bàn xã không còn sử dụng loa truyền thanh cơ sở để thực hiện thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật. Hiện nay các xã đang tiến hành rà soát, đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật. Vì vậy, các xã đã gặp lúng túng khi chấm điểm nội dung “xây dựng, thực hiện chuyên mục thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới phát thanh, truyền thanh của Đài Truyền thanh cấp xã, loa truyền thanh cơ sở (cố định hoặc lưu động) theo định kỳ”. Xin hỏi nội dung này được đánh giá, chấm điểm như thế nào?

Trả lời

Đây là nội dung 1 của Chỉ tiêu 7 thuộc Tiêu chí 3. Nội dung này có điểm số tối đa là 02 điểm và được chia thành 04 mức độ dựa trên yêu cầu về tần xuất thời gian thực hiện (định kỳ theo tuần, tháng, quý) và yêu cầu về chất lượng (thiết thực, đa dạng).

Các thiết chế thông tin cơ sở được quy định trong nội dung nêu trên theo hướng linh hoạt, phù hợp với khả năng và điều kiện của từng địa bàn cụ thể. Có thể trên cùng một địa bàn đã xây dựng, duy trì nhiều thiết chế thông tin cơ sở, nhưng cũng có địa bàn do điều kiện và nguồn lực thực tế, chỉ có một hoặc một vài thiết chế thông tin cơ sở. Tuy nhiên, việc đánh giá, chấm điểm nội dung này không xét đến số lượng của các thiết chế thông tin cơ sở mà đánh giá kết quả hoạt động của các thiết chế thông tin cơ sở hiện có tại địa bàn để tham gia                                                     tuyên truyền phổ biến cho nhân dân.

Do đó, đối với địa bàn không còn sử dụng hệ thống loa truyền thanh cơ sở trong việc thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật thì được đánh giá, chấm điểm trên cơ sở kết quả thực hiện các thiết chế thông tin cơ sở khác, không nên trừ điểm hoặc chấm điểm thấp trong trường cấp xã không có đầy đủ các thiết chế thông tin ở cơ sở tại nội dung nêu trên.

19. Xã tôi vừa qua đã tổ chức đánh giá các tiêu chí tiếp cận pháp luật, trong đó triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức đối thoại giữa chính quyền với người dân, đã vượt chỉ tiêu so với quy định pháp luật vì xã đã tổ chức 03 cuộc đối thoại. Xin cho biết trách nhiệm và nhiệm vụ đối thoại với nhân dân của chính quyền cấp xã được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tổ chức đối thoại chính sách, pháp luật, lắng nghe ý kiến phản ánh, kiến nghị của Nhân dân địa phương là một chỉ tiêu tiếp cận pháp luật (chỉ tiêu 8 thuộc Tiêu chí 3). Quy định chỉ tiêu này nhằm nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã tổ chức đối thoại với Nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Điều 125 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân ở địa phương về tình hình hoạt động của Ủy ban nhân dân và những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương; trường hợp quy mô đơn vị hành chính cấp xã quá lớn, có thể tổ chức trao đổi, đối thoại với Nhân dân theo từng cụm thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân dân phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông báo đến Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố về thời gian, địa điểm, nội dung của hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày tổ chức hội nghị”.

Qua tổ chức đối thoại chính sách, pháp luật giúp tăng cường hiểu biết, chia sẻ, gắn kết giữa chính quyền với người dân, giúp chính quyền gần dân, sát dân, đồng thời tạo điều kiện để người dân phản ánh tâm tư, quan điểm, nguyện vọng  của mình về công tác quản lý nhà nước và thực thi pháp luật trên địa bàn.

Như vậy trong một năm UBND cấp xã phải tổ chức hội nghị trao đổi, đối thoại với nhân dân ít nhất một lần. Việc xã tổ chức 03 cuộc đối thoại là vượt chỉ tiêu theo quy định bắt buộc phải làm và xã có thể chấm điểm tối đa.

20. Chỉ tiêu 9 thuộc Tiêu chí 3 về bố trí kinh phí bảo đảm cho công tác PBGDPL có xác định cách tính điểm nội dung “Định mức kinh phí ngân sách bảo đảm hằng năm” là: Tỷ lệ % = (Tổng số kinh phí được cấp/Tổng số kinh phí đề xuất với các mức chi và nội dung chi theo quy định của pháp luật về tài chính để thực hiện các nhiệm vụ đã được phê duyệt) x 100

Đề nghị hướng dẫn thêm về cách tính này?

Trả lời:

Điểm số tối đa của nội dung này là 02 điểm. Điểm số của nội dung này phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ giữa tổng số kinh phí thực tế được cấp hằng năm bảo đảm cho công tác PBGDPL so với tổng số kinh phí đã đề xuất với các mức chi và nội dung chi theo quy định của pháp luật về tài chính để thực hiện các nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Khi rà soát tổng số kinh phí đề xuất với các mức chi và nội dung chi theo quy định của pháp luật về tài chính để thực hiện các nhiệm vụ đã được phê duyệt, cần chú ý một số vấn đề sau:

- Các nhiệm vụ PBGDPL đã được phê duyệt là những nhiệm vụ trong Kế hoạch PBGDPL năm theo chỉ đạo, hướng dẫn của cấp huyện và được Ủy ban nhân dân/Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt.

- Trên cơ sở các nhiệm vụ đã được phê duyệt, công chức Tư pháp – Hộ tịch xây dựng dự toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ này với mức chi và nội dung chi theo quy định của Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTP-BTP và các văn bản khác có liên quan.

21. Việc đánh giá nội dung “các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định” của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 4 trên thực tế đã nảy sinh trường hợp có một số vụ, việc hòa giải được tiếp nhận, tiến hành hòa giải mà đến hết ngày 31/12 các bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận nhưng hai bên vẫn có yêu cầu tiếp tục hòa giải. Đề nghị hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này? Kết quả thực hiện nội dung này được tính cho năm đánh giá hay năm sau liền kể năm đánh giá?

Trả lời:

Trong tình huống nêu trên, cần xác định rõ các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định là những vụ, việc đã được tiếp nhận và hòa giải viên đã tiến hành hòa giải mà không phụ thuộc đã đạt được thỏa thuận (hòa giải thành) hay chưa đạt được thỏa thuận (hòa giải không thành).

Như vậy, nội dung về “các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định” cần phải đáp ứng các điều kiện như sau:

- Các vụ, việc phải thuộc phạm vi hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

- Thời gian thực hiện tiếp nhận, tiến hành hòa giải, kết thúc việc hòa giải phải trong khoảng thời gian từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 của năm đánh giá; tính đến hết ngày 31/12 vụ, việc đó phải đã kết thúc hòa giải và kết quả đạt được thuộc một trong 02 trường hợp: i) Hòa giải thành; ii) Hòa giải chưa thành nhưng hai bên không có yêu cầu tiếp tục hòa giải.

Đối với các vụ, việc đã tiếp nhận, thực hiện hòa giải nhưng đến hết ngày 31/12 của năm đánh giá mà chưa kết thúc hòa giải, kể cả trường hợp hai bên chưa đạt được thỏa thuận nhưng có yêu cầu tiếp tục hòa giải thì sẽ tính kết quả, chấm điểm cho năm sau liền kề năm đánh giá.

22. Xin hỏi, cách tính điểm nội dung “Ngân sách cấp xã hằng năm có bố trí kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở” như thế nào?

Trả lời:

Đây là nội dung thành phần số 1 của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 4 về hòa giải ở cơ sở với điểm số tối đa là 01 điểm. Để xác định điểm số nội dung này, công chức đầu mối được giao theo dõi, đánh giá cần căn cứ vào dự toán ngân sách cấp xã để xác định điểm số theo nội dung như sau:

- Tại thời điểm đánh giá, chấm điểm xác định trong năm đánh giá trong dự toán ngân sách cấp xã hằng năm có bố trí kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở: 01 điểm.

- Nếu trong năm đánh giá trong dự toán ngân sách cấp xã hằng năm không bố trí kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở: 0 điểm

23. Khi tiến hành đánh giá, chấm điểm nội dung hỗ trợ kinh phí cho tổ hòa giải và hòa giải viên”, theo quy định tại Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 4 Phụ lục I của Thông tư số 07/2017/TT-BTP có đề cập đến định mức hỗ trợ làm căn cứ để cho điểm. Xin hỏi dựa vào căn cứ nào để xác định định mức này?

Trả lời:

Hỗ trợ kinh phí cho tổ hòa giải và hòa giải viên là một nội dung của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 4. Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định muốn đạt được điểm tối đa nội dung này (02 điểm) phải đáp ứng yêu cầu về hỗ trợ kinh phí hoạt động hòa giải cho các tổ hòa giải theo đúng định mức quy định và chi thù lao hòa giải viên cho tất cả vụ, việc hòa giải theo đúng định mức quy định.

Khoản 19, khoản 21 Điều 4 Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở quy định:

- Chi thù lao cho hòa giải viên (đối với các hòa giải viên trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải): Mức chi tối đa 200.000 đồng/vụ, việc/tổ hòa giải.

- Chi hỗ trợ hoạt động của tổ hòa giải (chi mua văn phòng phẩm, sao chụp tài liệu, nước uống phục vụ các cuộc họp của tổ hòa giải): Mức chi tối đa 100.000 đồng/tổ hòa giải/tháng.

Bên cạnh đó, mức chi đối với 2 nội dung trên còn căn cứ vào Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định về kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Qua theo dõi, đánh giá kết quả triển khai thực hiện cụ thể các quy định về chính sách hỗ trợ cho tổ hòa giải và hòa giải viên làm căn cứ để chấm điểm cụ thể.

24. Khi đánh giá, chấm điểm một số chỉ tiêu có nội dung liên quan đến kinh phí (kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; kinh phí hỗ trợ công tác hòa giải ở cơ sở) có địa phương dựa vào định mức quy định của Trung ương, có địa phương lại căn cứ vào quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Xin hỏi căn cứ nào là đúng quy định?

Trả lời:

Như đã giải đáp, hướng dẫn cụ thể tại tình huống số 20 và 23, cơ sở để xác định kết quả thực hiện các chỉ tiêu có nội dung về kinh phí là định mức kinh phí được quy định trong các văn bản của cơ quan có thẩm quyền.

Đối với tình huống nêu trên, theo Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP, Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào các văn bản này để ban hành Nghị quyết quy định mức chi cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, kinh phí hoạt động hòa giải và thù lao cho hòa giải viên phù hợp với khả năng ngân sách và tình hình thực tế của địa phương.

Các mức chi theo quy định của Trung ương là mức chi tối đa, nếu địa phương chưa ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì phải căn cứ vào mức chi theo văn bản của Trung ương. Trường hợp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã ban hành Nghị quyết thì căn cứ vào mức chi theo Nghị quyết để áp dụng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa bàn.

25. Để triển khai chuẩn tiếp cận pháp luật, một số địa bàn cấp xã đã phân công cho công chức Văn phòng – Thống kê trách nhiệm theo dõi, đánh giá, chấm điểm, đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí “Thực hiện dân chủ ở cơ sở” theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP. Xin hỏi  việc  phân công nhiệm vụ cho công chức chuyên môn cấp xã có phù hợp?

Trả lời:

Khoản 4 Điều 10 Quyết định số 619/QĐ-TTg giao Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo, hướng dẫn triển khai xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại địa phương, phân công cơ quan chuyên môn và công chức làm đầu mối theo dõi, tham mưu thực hiện… Vì vậy, trên cơ sở các quy định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phân công cho các công chức chuyên môn theo dõi, đánh giá, chấm điểm các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật gắn với các nhiệm vụ và lĩnh vực chuyên môn mà công chức đang đảm nhiệm, bảo đảm các chỉ tiêu, tiêu chí đều có đầu mối theo dõi, đánh giá, chấm điểm.

Theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn để phân công công chức theo dõi, đánh giá, chấm điểm, đề xuất giải pháp thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật có liên quan. Trong đó, tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư này có quy định nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê: “Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của y ban nhân dân cấp xã; thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân cấp xã; nhận đơn thư khiếu nại, t cáo và chuyn đến Thường trực Hội đồnnhân dân, Ủy ban nhân dân xem xét, giải quyết theo thm quyền; tng hợp, theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật”.

Vì vậy, đối với tiêu chí “thực hiện dân chủ ở cơ sở” theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP, cần giao cho công chức Văn phòng – Thống kê làm đầu mối theo dõi, tổng hợp, đánh giá, chấm điểm là phù hợp. Hiện nay, qua theo dõi, kiểm tra, khảo sát cho thấy, nhiều đơn vị cấp xã đã giao công chức Văn phòng – Thống kê thực hiện nhiệm vụ này.

26. Xin hỏi, cách tính điểm đối với chỉ tiêu “Cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình được bàn, biểu quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định về các nội dung theo quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở” được xác định như thế nào?

Trả lời:

Đây là Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 5 về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP với điểm số tối đa là 04 điểm. Cách tính điểm dựa trên tỷ lệ %, cụ thể là:

Tỷ lệ % = Tổng số nội dung đã được cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình bàn, biểu quyết/Tổng số nội dung mà pháp luật quy định cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định phát sinh trên thực tế) x 100.

Những nội dung mà pháp luật quy định Nhân dân được bàn, biểu quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định quy định tại Điều 13 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, gồm: (1) Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; (2) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và (3) Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.

Để tính điểm chỉ tiêu này, công chức Văn phòng – Thống kê cần căn cứ vào Báo cáo, số liệu, kết quả, tài liệu, biên bản thể hiện kết quả các nội dung Nhân dân bàn, biểu quyết để xác định:

Thứ nhất, xác định tổng số nội dung mà pháp luật quy định cử tri hoặc đại diện hộ gia đình được bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định phát sinh trên thực tế;      

Thứ hai, xác định tổng số nội dung đã được cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình bàn, biểu quyết trong tổng số nội dung đã phát sinh;

Thứ ba, xác định tỷ lệ % theo công thức nêu trên và tính điểm số của chỉ tiêu này theo công thức tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 07/2017/TT-BTP với Số điểm đạt được = (Tỷ lệ % đạt được x Số điểm tối đa của chỉ tiêu)/100.

Ví dụ: Trong năm đánh giá, cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình đã bàn, biểu quyết đối với 02 nội dung trên tổng số 03 nội dung pháp luật quy định nhân dân được bàn, biểu quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định phát sinh thực tế tại địa phương, khi đó tỷ lệ % = (2/3) x 100 = 66,67%. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 07/2017/TT-BTP để tính điểm số của nội dung này là (66,67 x 4)/100 = 2,67 điểm.

27. Xin hỏi, cách tính điểm đối với chỉ tiêu “Nhân dân được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định về các nội dung theo quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở” được xác định như thế nào?

Trả lời:

Đây là Chỉ tiêu 4 thuộc Tiêu chí 5 về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP với điểm số tối đa là 04 điểm. Đây là một trong những chỉ tiêu được tính điểm dựa trên tỷ lệ %, cụ thể là:

Tỷ lệ % = (Tổng số nội dung đã được Nhân dân tham gia ý kiến/Tổng số nội dung mà pháp luật quy định phải lấy ý kiến Nhân dân phát sinh trên thực tế) x 100

 Những nội dung mà pháp luật quy định Nhân dân được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định quy định tại Điều 19 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, gồm: (1) Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã, phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã; (2) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã;  (3) Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã, chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư, phương án quy hoạch khu dân cư; (4) Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã và (5) Nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

Để tính điểm chỉ tiêu này, công chức Văn phòng – Thống kê cần căn cứ vào Báo cáo, số liệu, kết quả, tài liệu, biên bản thể hiện kết quả các nội dung Nhân dân tham gia ý kiến để xác định:

Thứ nhất, xác định tổng số nội dung mà pháp luật quy định phải lấy ý kiến Nhân dân phát sinh trên thực tế;      

Thứ hai, xác định tổng số nội dung đã được Nhân dân tham gia ý kiến trong tổng số nội dung đã phát sinh;

Thứ ba, xác định tỷ lệ % theo công thức nêu trên và tính điểm số của chỉ tiêu này theo công thức tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 07/2017/TT-BTP với Số điểm đạt được = (Tỷ lệ % đạt được x Số điểm tối đa của chỉ tiêu)/100

 Ví dụ: Trong năm đánh giá, trên địa bàn cấp nhân dân đã tham gia ý kiến đối với 03 nội dung trên tổng số 04 nội dung pháp luật quy định nhân dân được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định phát sinh trên thực tế, khi đó tỷ lệ % = (3/4) x 100 = 75%. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 07/2017/TT-BTP để tính điểm số của nội dung này là (75 x 4)/100 = 3 điểm.

 

28. Vừa rồi, xã tôi tiến hành rà soát, đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, trong đó có nhiệm vụ tổ chức lấy ý kiến Nhân dân vào dự thảo văn bản quy phạm theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên chưa hoàn thành do theo kế hoạch, nhiệm vụ này sẽ kết thúc vào tháng 01 của năm sau. Đề nghị hướng dẫn cụ thể đối với những nhiệm vụ có tiến độ thực hiện kéo dài sang năm sau liền kề năm đánh giá thì kết quả được tính như thế nào?

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg, việc rà soát, đánh giá, chấm điểm, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được tiến hành hằng năm tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12. Như vậy, kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật được căn cứ vào năm kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong trường hợp có nhiệm vụ chưa hoàn thành trong năm đánh giá mà theo Kế hoạch phải hoàn thành năm sau liền kề năm đánh giá như tình huống nêu trên thì cần tính kết quả thực hiện nhiệm vụ này cho năm sau để thuận lợi cho cấp xã, cấp huyện trong việc đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

29. Theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, có những hoạt động nào mặc dù cấp xã không thực hiện nhưng vẫn được chấm điểm tối đa khi đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật? Vì sao lại quy định như vậy?

Trả lời

Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, có 5/25 chỉ tiêu có quy định theo hướng tuy không thực hiện các hoạt động này nhưng vẫn được chấm điểm tối đa, cụ thể là:

- Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 1: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để quy định những vấn đề được luật giao (Trong năm đánh giá không có nhiệm vụ ban hành văn bản quy phạm pháp luật do luật không giao được tính 01 điểm).

- Chỉ tiêu 4 thuộc Tiêu chí 2: Phản ánh, kiến nghị về giải quyết thủ tục hành chính được tiếp nhận, xử lý đúng trình tự, thủ tục, thời hạn (Trong năm đánh giá không có phản ánh, kiến nghị về giải quyết thủ tục hành chính được tính 02 điểm).

- Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 3: Thực hiện cung cấp thông tin pháp luật qua các hình thức cung cấp thông tin theo quy định và qua hoạt động của người phát ngôn (Trong năm đánh giá không có yêu cầu cung cấp thông tin được tính 02 điểm).

- Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 3: Lấy ý kiến Nhân dân đối với tất cả dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên (Trong năm đánh giá không được giao nhiệm vụ lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được tính 02 điểm).

- Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 4: Hướng dẫn thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên (Trong năm đánh giá không thực sự cần thiết thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên được tính 01 điểm).

Việc Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định theo hướng không thực hiện các hoạt động trên nhưng vẫn được chấm điểm tối đa vì lý do khách quan, việc không thực hiện các hoạt động là do cấp xã không được giao/phát sinh nhiệm vụ này chứ không phải cấp xã không thực hiện nhiệm vụ được giao/phát sinh.

          30. Trong Phụ lục I của Thông tư số 07/2017/TT-BTP có quy định về trừ điểm khi không thực hiện một số nhiệm vụ. Đề nghị cho biết những nhiệm vụ nào không thực hiện thì bị trừ điểm và vì sao lại trừ điểm?

Trả lời:

Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, có 5/25 chỉ tiêu có quy định theo hướng bị trừ 0,25 điểm/nhiệm vụ khi không thực hiện nhiệm vụ này, cụ thể là:

- Nội dung 4 của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 1 (Tăng tội phạm tệ nạn xã hội so với năm trước liền kề năm đánh giá);

- Nội dung 4 của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 2 (Không đảm bảo diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; không đảm bảo trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và không bố trí công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo yêu cầu, thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định);

- Nội dung 2 của Chỉ tiêu 8 thuộc Tiêu chí 3 (Không tổ chức trao đổi, đối thoại theo quy định);

- Nội dung 3 của Chỉ tiêu 9 thuộc Tiêu chí 3 (Không bố trí kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật);

- Nội dung 3 của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 4 (Không bố trí kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, kinh phí hỗ trợ hoạt động hòa giải, chi thù lao hòa giải viên theo vụ, việc).

- Quy định trừ điểm khi không thực hiện một số nhiệm vụ trong các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật vì đây là các nhiệm vụ quan trọng, thời gian vừa qua nhiều địa phương thực hiện chưa tốt nên trừ điểm có tác dụng nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc quan tâm thực hiện các nhiệm vụ này.

 

31. Đề nghị cho biết để đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quy định tại Quyết định số 619/QĐ-TTg, cấp xã phải đáp ứng những điều kiện cụ thể nào?

Trả lời:

Cấp xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật khi có đủ 04 điều kiện sau đây:

1.1. Một là, không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa, cụ thể như sau:

- Tiêu chí 1. Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật:  đạt từ 7,5 điểm trở lên.

- Tiêu chí 2. Thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã: đạt từ 15 điểm trở lên

- Tiêu chí 3. Phổ biến, giáo dục pháp luật: đạt từ 12,5 điểm trở lên

- Tiêu chí 4. Hòa giải ở cơ sở: đạt từ 5 điểm trở lên

- Tiêu chí 5. Thực hiện dân chủ ở cơ sở: đạt từ 10 điểm trở lên

Nếu có một hoặc một số chỉ tiêu, nội dung thành phần của tiêu chí đạt dưới 50% số điểm tối đa theo quy định nhưng tổng số điểm của tiêu chí đó không dưới 50% số điểm tối đa thì vẫn đáp ứng điều kiện này.

1.2. Hai là, tổng số điểm của các tiêu chí tiếp cận pháp luật phải đạt từ 90% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại I, từ 80% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại II và từ 70% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại III.

1.3. Ba là, kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 5 Quy định này đạt từ 80% tổng số điểm tối đa trở lên. Đây còn là một chỉ tiêu của tiêu chí tiếp cận pháp luật (chỉ tiêu 5 của Tiêu chí 2). Điểm số tối đa của chỉ tiêu này là 12 điểm, theo đó để đảm bảo điều kiện này thì kết quả điểm số đạt được của chỉ tiêu này trên thực tế phải tương ứng từ 8 điểm trở lên.

1.4. Bốn là, trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra. Hành vi công vụ trái pháp luật của cán bộ, công chức đã gây ra thiệt hại, phải bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường này được xác định trong quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc trong bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

32. Theo kết quả tự chấm điểm của xã A, tổng số điểm của mỗi tiêu chí tiếp cận pháp luật đều đạt trên 50% số điểm tối đa. Tuy nhiên, có một số chỉ tiêu thuộc Tiêu chí 1 lại đạt điểm số dưới 50% số điểm tối đa của chỉ tiêu đó (Ví dụ: Chỉ tiêu 2 của Tiêu chí 1 chỉ đạt 2 điểm, khoảng 33% so với số điểm tối đa của chỉ tiêu là 6 điểm). Xin hỏi, trong trường hợp này xã A có bảo đảm điều kiện “Không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa” hay không?

Trả lời:

Tại điểm a Khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg quy định điều kiện về số điểm của các tiêu chí là “Không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa”, mà không quy định điều kiện đối với điểm số của các chỉ tiêu trong tiêu chí đó. Theo đó, nếu các tiêu chí có chỉ tiêu đạt điểm số dưới 50% số điểm nhưng tổng số điểm của tiêu chí không dưới 50% số điểm tối đa thì vẫn đáp ứng điều kiện này.

Đối chiếu với trường hợp của xã A, tuy có một số chỉ tiêu của Tiêu chí 1 có điểm số đạt dưới 50% số điểm tối đa của chỉ tiêu đó nhưng tổng điểm của các tiêu chí (trong đó có Tiêu chí 1) đều đạt trên 50% số điểm tối đa thì vẫn đáp ứng điều kiện “Không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa”.

33. Tại Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định một trong các điều kiện để xem xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là “tổng số điểm của các tiêu chí tiếp cận pháp luật phải đạt từ 90% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại I, từ 80% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại II và từ 70% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại III”. Xin hỏi, việc phân loại cấp xã loại I, loại II, loại III được thực hiện theo quy định nào?

Trả lời:

Theo hướng dẫn tại Biểu mẫu 07-TCPL-II tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã loại I, loại II, loại III được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét, quyết định phân loại đơn vị hành chính cấp xã.

34. Trong năm đánh giá, xã X có 1 công chức bị kỷ luật do vi phạm chính sách dân số. Khi họp đánh giá tại cấp xã, có ý kiến nhận định xã X không đủ điều kiện xét công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật vì không đáp ứng điều kiện theo quy định do có công chức vi phạm chính sách dân số, đề nghị không gửi hồ sơ lên cấp huyện. Xin hỏi, ý kiến cho rằng xã X không bảo đảm điều kiện công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trường hợp này có đúng quy định không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg quy định một trong những điều kiện công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: “Trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra”. Quy định này được hiểu như sau:

- Thứ nhất: Các hình thức xử lý kỷ luật (từ cảnh cáo trở lên) đối với cán bộ, công chức cấp xã được xác định theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, bao gồm: hạ bậc lương, buộc thôi việc, bãi nhiệm (đối với cán bộ), giáng chức, cách chức (đối với công chức).

- Thứ hai: Chỉ xác định là không đủ điều kiện đối với các trường bị xử lý kỷ luật (từ cảnh cáo trở lên) do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ nghĩa là hành vi vi phạm đó phải xuất phát từ việc thực thi công vụ.

Trong tình huống nên trên, trong năm đánh giá xã X có công chức bị kỷ luật do vi phạm chính sách dân số thuộc trách nhiệm cá nhân người có hành vi vi phạm nhưng không phải là vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ do không xuất phát từ hành vi thực thi công vụ. Do đó, xã X không vi phạm điều kiện công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg.

35. Vừa qua phường K đã tiến hành rà soát, tự đánh giá, chấm điểm các  tiêu chí tiếp cận pháp luật; tổng số điểm tự đánh giá đạt rất cao (95 điểm). Tuy nhiên khi xét đến các điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì có trường hợp công chức của phường đang bị xem xét, xử lý kỷ luật. Phường K định chờ có quyết định xử lý kỷ luật mới xem xét việc gửi hồ sơ đề nghị quận công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; thời hạn đánh giá tại phường đã hết nhưng vẫn chưa có quyết định kỷ luật. Xin hỏi, trường hợp này có ảnh hưởng đến điều kiện đề nghị đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của phường hay không?

Trả lời:

Việc tự đánh giá, đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của cấp xã phải thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg (trong đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường gửi hồ sơ đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đến Phòng Tư pháp quận trước ngày 05/01 của năm liền kề sau năm đánh giá), không vì có trường hợp công chức đang bị xem xét, xử lý kỷ luật mà dừng lại hoặc chờ đợi quyết định kỷ luật, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ không chỉ của phường mà của cả quận.

Về nguyên tắc, nếu xảy ra hiện tượng công chức phường vi phạm thì tại thời điểm xét các điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã phải có quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đó. Bởi vì Quyết định xử lý kỷ luật là cơ sở, căn cứ để xác định hành vi vi phạm của công chức có ảnh hưởng đến điều kiện để công nhận phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hay không (bị kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra).

Như vậy, trong trường hợp trên, phường K có thể xem xét, quyết định việc đề nghị quận xem xét, đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đảm bảo đúng quy định, phù hợp với từng trường hợp cụ thể trên thực tế. Sau này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định xử lý kỷ luật thì căn cứ vào tính chất và mức độ xử lý để xác định liệu phường K có đủ điều kiện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

36. Khi tổ chức đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, xã N có đủ các điều kiện về: Không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa; tổng số điểm của các tiêu chí tiếp cận pháp luật đạt cao (90% số điểm tối đa); kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại xã. Tuy nhiên, xã có 01 trường hợp đang làm việc tại xã theo chế độ hợp đồng bị kỷ luật cảnh cáo do vi phạm hợp đồng lao động về  kỷ luật hợp đồng. Xin hỏi, xã N có đủ điều kiện để xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg, một trong các điều kiện để được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là “trong năm đánh giá không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra”.

Do vậy, do người vi phạm và bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động mà không phải là cán bộ, công chức của xã N nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg xã N vẫn đủ điều kiện để đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

37. Trong năm đánh giá, xã D có 01 công chức bị công an phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, thông báo về cơ quan, tổ chức nơi đang công tác và bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Xin hỏi, trường hợp này có bị coi là “vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ” hay không?

Trả lời:

Hành vi vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật trong quá trình thực thi công vụ.

Hành vi nghiện ma túy của công chức xã D tuy là hành vi bị xử lý kỷ luật nhưng là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn, không phải là hành vi “vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ”.

38. Vừa qua, một số người dân đến giải quyết thủ tục hành chính đã phản ánh công chức tại bộ phận một cửa của phường T thường có thái độ hách dịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường đã chỉ đạo xác minh, làm rõ sự việc này, sau đó đã xử lý kỷ luật khiển trách 01 công chức. Xin hỏi, khi đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, phường T có vi phạm điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6 Quyết định số 619/QĐ-TTg hay không?

Trả lời:

Công chức của phường T bị kỷ luật do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, nhưng hình thức kỷ luật chỉ là khiển trách nên không vi phạm điều kiện xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định.

Tuy nhiên, ngoài điều kiện trên, để được công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật phường T phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 619/QĐ-TTg, trong đó có điều kiện: “Kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 5 Quy định này đạt từ 80% tổng số điểm tối đa trở lên”.

Vì vậy, việc công chức của phường T thường có thái độ hách dịch khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho công dân có thể sẽ ảnh hưởng đến kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại phường. Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, lãnh đạo chính quyền phường T cần chỉ đạo, rút kinh nghiệm trong thực hiện công tác cải cách hành chính nói chung và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính nói riêng để bảo đảm hoàn thành các chuẩn thuộc tiêu chí thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của cấp xã trong đó có đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ khi phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính.

39. Anh A là công chức thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân xã E. Vào mùa mưa năm 2018, cây dừa của nhà anh bị gió giật đổ gây vỡ mái ngói của nhà bà B hàng xóm. Anh A đã bồi thường thiệt hại cho bà B. Xin hỏi, sự việc của anh A có làm ảnh hưởng đến điều kiện đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã E không?

Trả lời:

Theo Khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg, một trong nhưng điều kiện để cấp xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là “Trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra”.

Khoản 4 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 quy định: “Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy  định của pháp luật.”

 Cũng theo Điều 3 Luật này: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.”(Khoản 2)

Theo các quy định này, có thể hiểu hành vi công vụ trái pháp luật là hành vi của người thi hành công vụ không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn không đúng quy định của pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án và chỉ những trường hợp phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra mới thuộc điều kiện xét cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Anh A là công chức của xã E nhưng việc bồi thường thiệt hại của anh A thuộc lĩnh vực dân sự, không liên quan đến nhiệm vụ thực thi công vụ, do đó không có liên quan đến các điều kiện xét công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã E.

40. Trong năm 2017, xã A có 01 công chức bị tố cáo có hành vi nhận hối lộ trong quá trình giải quyết công việc liên quan đến nhiệm vụ của công chức này và đang trong quá trình điều tra, xác minh nhưng chưa có kết luận chính thức. Xin hỏi, trường hợp này có ảnh hưởng đến điều kiện xét công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận của xã A trong năm đánh giá đó hay không?

Trả lời:

Điểm d Khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg quy định: “Trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra”.

Đối chiếu với trường hợp của xã A, có công chức bị tố cáo có hành vi nhận hối lộ, đây là hành vi vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ. Tuy nhiên, vụ việc này còn đang trong quá trình điều tra, xác minh, chưa có kết luận giải quyết của cơ quan/người có thẩm quyền theo quy định. Vì vậy, về nguyên tắc, trường hợp này chưa tính vào kết quả và điều kiện đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã A trong năm 2017 theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6 Quyết định 619/QĐ-TTg.

Trong năm 2018, nếu cơ quan/người có thẩm quyền có kết luận công chức này nhận hối lộ và bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo trở lên theo quy định của pháp luật thì sẽ là cơ sở để đánh giá xã A chưa đủ điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

41. Vào cuối năm, khi tiến hành đánh giá kết quả, điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, xã K phát hiện một công chức trước khi chuyển về xã công tác có vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ và đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo. Xin hỏi, xã K có đủ điều kiện để xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định hay không?

Trả lời:

Khi xem xét điều kiện “trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra”, cần lưu ý đến thời điểm công chức bị xử lý kỷ luật do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ. Trong trường hợp này, do vi phạm xảy ra và được xử lý trước thời điểm công chức chuyển về xã công tác nên không được tính vào kết quả đánh giá, xét công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã K nên xã không bị ảnh hưởng tới các điều kiện xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

42. Trong quá trình thẩm định hồ sơ của các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017, một số thành viên trong Hội đồng thẩm định của tỉnh K không đồng ý với quyết định công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của huyện M đối với một số xã trên địa bàn. Xin hỏi trường hợp này giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Theo Quyết định số 619/QĐ-TTg, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M có thẩm quyền xem xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định về công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới của Quyết định số 2540/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Đối với tình huống nêu trên được vận dụng, giải quyết như sau:

- Hội đồng thẩm định xã đạt chuẩn nông thôn mới có thể có ý kiến đối với kết quả công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã xem xét, quyết định công nhận trong trường hợp có đủ thông tin, cơ sở xác đáng cho rằng kết quả đánh giá, công nhận đó chưa khách quan, thiếu chính xác hoặc chưa phản ánh đúng thực trạng và kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật trên thực tế.

- Nếu trong quá trình kiểm tra, xem xét thực tế và có đủ cơ sở kết luận kết quả đánh giá, công nhận một số xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chưa khách quan, chính xác, chưa phản ánh đúng thực trạng và kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật trên thực tế thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm về quyết định công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của mình.

- Trường hợp kiểm tra, xem xét thực tế và không có cơ sở kết luận kết quả đánh giá, công nhận một số xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chưa khách quan, chính xác mà phản ánh đúng thực trạng và kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật trên thực tế thì cấp tỉnh phải tôn trọng kết quả công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M đã quyết định.

43. Ngày 08/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 619/QĐ-TTg ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Xin hỏi “Chuẩn tiếp cận là gì?”; mục tiêu, ý nghĩa của việc ban hành văn bản này?

Trả lời: Hiện các văn bản pháp luật hiện hành chưa định nghĩa chuẩn tiếp cận pháp luật mà chỉ quy định tiêu chí xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có 05 tiêu chí thành phần, bao gồm: i) Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật (15 điểm); ii) Thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã (30 điểm); iii) Phổ biến, giáo dục pháp luật (25 điểm); iv) Hòa giải ở cơ sở (10 điểm); v) Thực hiện dân chủ ở cơ sở (20 điểm).

Để được công nhận đạt chuẩn, xã phải đạt 04 điều kiện: i) Không có tiêu chí nào dưới 50% số điểm tối đa; ii) Kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính đạt từ 80% tổng số điểm tối đa trở lên; iii) Tổng số điểm của các tiêu chí phải đạt từ 90% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại I, từ 80% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại II và từ 70% số điểm tối đa trở lên đối với cấp xã loại III; và iv) Trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra.

Như vậy, xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật phải được hiểu là chính quyền cấp xã phải bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân; bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; thực hiện tốt thủ tục hành chính; thực hiện dân chủ ở cơ sở và công tác hòa giải ở cơ sở ở một mức độ tối đa; phải thực hiện nghiêm chỉnh Luật PBGDPL, Luật hòa giải ở cơ sở, Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở và các Luật có liên quan như Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo và các quy định liên quan đến thực hiện các thủ tục hành chính. Người dân phải có hiểu biết pháp luật, nắm vững pháp luật, dễ dàng tiếp cận, khai thác và sử dụng pháp luật; các cơ quan nhà nước và người thi hành công vụ phải thực hiện nghiêm chỉnh và và đầy đủ trách nhiệm được giao theo Luật để bảo đảm thực hiện đầy đủ nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Các tổ chức đoàn thể xã hội, nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận và người dân phải được tham gia, giám sát việc thực hiện.

Mục tiêu của việc ban hành Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 là nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế về đánh giá, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả tiêu chí tiếp cận pháp luật trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016; triển khai thực hiện việc đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016; khắc phục tồn tại, hạn chế đã được phát hiện sau 03 năm thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; 

Việc ban hành văn bản này và triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ nâng cao nhận thức pháp luật trong toàn xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân, mà còn bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất, phát huy và thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền con người, quyền công dân khi thực hiện các thủ tục hành chính tại cấp xã và kịp thời giải tỏa mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật ngay tại cộng đồng dân cư, không để tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đẩy lên cao gây ra bất ổn xã hội. Qua thực hiện tốt nhiệm vụ này còn nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ; cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

44. Quyết định 619/QĐ-TTg quy định về thời hạn đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật như thế nào? Ý nghĩa của việc quy định thời hạn này?

Trả lời:

Có 02 thời hạn có liên quan đến việc đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, bao gồm:

- Thời hạn được tính để xác định, chấm điểm kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật: Tính theo năm kế hoạch của địa phương, từ ngày 01/01 đến 31/12 hằng năm.

Việc quy định thời hạn rà soát, đánh giá, chấm điểm, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nhằm bảo đảm tính liên thông, gắn kết với đánh giá thực hiện nhiệm vụ chính trị thi đua – khen thưởng hàng năm; đánh giá phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh và cấp ủy, chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh. Phù hợp với thời hạn thực hiện thống kê, báo cáo hàng năm của địa phương, giúp cho việc thống kê, báo cáo được thuận tiên, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí.

- Thời hạn thực hiện quy trình đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: Thời hạn này được hiểu là khoảng thời gian thực hiện các hoạt động rà soát, chấm điểm, đánh giá, đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định thời hạn này theo hướng mở đối với việc triển khai thực hiện các hoạt động rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật (có thể theo tháng, quý, 06 tháng…) để tạo sự chủ động cho địa phương triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Quyết định số 619/QĐ-TTg đã quy định thời điểm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã gửi hồ sơ đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đến Phòng Tư pháp cấp huyện trước ngày 05/01 của năm liền kề sau năm đánh giá; Phòng Tư pháp lập danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và đề xuất các giải pháp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trước ngày 20/01 của năm liền kề sau năm đánh giá và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trước ngày 25/01 của năm liền kề sau năm đánh giá.

45. Qua theo dõi, kiểm tra việc rà soát, đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật của các xã trên địa bàn trong năm đánh giá vừa qua cho thấy có xã thực hiện rà soát, đánh giá theo quý, có xã thực hiện 06 tháng và thực hiện lần cuối cùng vào cuối năm để tổng hợp, xem xét việc đề nghị công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định. Xin hỏi việc triển khai hoạt động này được thực hiện theo quy định nào?

Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định “Công chức cấp xã được giao theo dõi các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật có trách nhiệm tự chấm điểm, gửi kết quả đến công chức Tư pháp - Hộ tịch. Căn cứ kết quả tự chấm điểm của công chức cấp xã và kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính, công chức Tư pháp - Hộ tịch tổng hợp báo cáo, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”.

Như vậy, Quyết định số 619/QĐ-TTg không quy định việc thực hiện rà soát, đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật được tiến hành hàng tháng, hàng quý hay chỉ làm vào cuối năm nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt cho địa phương tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế. Do các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật có nội dung gắn với trách nhiệm, nhiệm vụ thường xuyên, hằng năm của chính quyền cấp xã và công chức chuyên môn của cấp xã nên rất thuận tiện trong theo dõi, rà soát, chấm điểm. Căn cứ điều kiện thực tế, việc rà soát, chấm điểm, đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu có thể thực hiện nhiều lần hoặc một lần, thực hiện theo tháng, quý, 06 tháng hoặc năm/lần. Nhưng phải lưu ý rằng nếu thực hiện nhiều lần thì kết quả rà soát cuối cùng là tổng hợp các kết quả của các lần trước đó và phải bảo đảm yêu cầu về thời hạn rà soát, đánh giá theo quy định tại Điều 7 Quyết định 619/QĐ-TTg.

46. Theo quy định, Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Xin hỏi trong quá trình thẩm tra, nếu phát hiện các kết quả, nội dung trong hồ sơ, tài liệu có mâu thuẫn hoặc chưa rõ thì Phòng Tư pháp có được yêu cầu cấp xã giải trình, bổ sung làm rõ hay không?

Trả lời:

Tại khoản 5 Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định “Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải trình, bổ sung hồ sơ trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu”.

Theo đó, trong quá trình tiếp nhận, rà soát, kiểm tra hồ sơ trước khi thực hiện thẩm tra, nếu phát hiện hồ sơ còn chưa đầy đủ theo quy định thì Phòng Tư pháp có thể yêu cầu, đề nghị cấp xã bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Còn qua thẩm tra mà phát hiện hồ sơ, tài liệu có mâu thuẫn, chưa rõ hoặc có cơ sở, thông tin cho rằng kết quả tự đánh giá cuả cấp xã còn có nội dung chưa bảo đảm thì đây được coi là trường hợp cần thiết phải yêu cầu cấp xã giải trình làm rõ, bổ sung hồ sơ. Tuy nhiên, Phòng Tư pháp không có thẩm quyền yêu cầu, đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã mà phải báo cáo, đề xuất với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc giải trình, bổ sung hồ sơ theo quy định.

47. Theo quy định, nếu cấp xã thấy đủ điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật mới gửi hồ sơ lên cấp huyện để thẩm tra, xem xét quyết định công nhận. Vậy tại sao Phòng Tư pháp cấp huyện lại phải lập cả Danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật?

Trả lời:

Tại khoản 6 Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định:“Căn cứ kết quả họp Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật, Phòng Tư pháp cấp huyện lập danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và đề xuất các giải pháp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trước ngày 20 tháng 01 của năm liền kề sau năm đánh giá”.

Về nguyên tắc, qua tự đánh giá nếu xã đủ các điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì mới lập hồ sơ gửi cấp huyện xem xét, quyết định công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Nếu không  đủ điều kiện xã vẫn phải báo cáo kết quả và đề ra giải pháp để cải thiện, khắc phục. Việc Phòng Tư pháp cấp huyện lập danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, đồng thời thấy được thực trạng và quyết định các giải pháp khắc phục hạn chế đối với cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Mặt khác, quy định đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện theo cơ chế kết hợp giữa tự đánh giá của cấp xã và thẩm tra, đánh giá của cấp trên trực tiếp (cấp huyện). Do vậy, nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có cơ sở cho rằng kết quả tự đánh giá của cấp xã, thẩm tra của Phòng Tư pháp, đánh giá của Hội đồng tiếp cận pháp luật chưa bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan thì có thể điều chỉnh kết quả đó cho phù hợp.

Do đó, Phòng Tư pháp không chỉ lập Danh sách các xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật mà cả Danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

48. Xin hỏi sau khi hoàn thành việc tự đánh giá mà cấp xã thấy không đủ điều kiện công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì có phải lập đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg để gửi cho Phòng Tư pháp cấp huyện hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Quyết định 619/QĐ-TTg: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức họp đánh giá kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Cuộc họp có đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tham dự. Trường hợp xét thấy đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 Quy định này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã gửi hồ sơ đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đến Phòng Tư pháp cấp huyện trước ngày 05 tháng 01 của năm liền kề sau năm đánh giá.

Hồ sơ đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật bao gồm: Báo cáo đánh giá kết quả đạt chuẩn của Ủy ban nhân dân cấp xã; Bảng tổng hợp điểm số của các chỉ tiêu, tiêu chí tự chấm điểm; Bảng tổng hợp kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân; công văn đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và tài liệu khác (nếu có).”

Như vậy, nếu qua kết quả tự đánh giá mà cấp xã thấy không đáp ứng các điều kiện công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì không phải lập hồ sơ gửi Phòng Tư pháp, nhưng cấp xã phải hoàn thiện Báo cáo đánh giá kết quả đạt chuẩn trên cơ sở cuộc họp đánh giá, trong đó chú trọng việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy, phấn đấu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (theo mẫu số 04-TCPL-PLII của Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP) để Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

49. Xin hỏi việc niêm yết kết quả đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Việc niêm yết công khai kết quả đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Quyết định 619/QĐ-TTg như sau:

- Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm niêm yết kết quả đánh giá cp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Hình thức, địa điểm công khai, niêm yết: trụ sở làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa hoặc nơi sinh hoạt cộng đồng của thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố và cộng đồng dân cư khác và thông báo trên đài, loa truyền thanh cơ sở.

- Nội dung niêm yết công khai: kết quả chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật (Báo cáo đánh giá kết quả đạt chuẩn của Ủy ban nhân dân cấp xã; Bảng tổng hợp điểm số của các chỉ tiêu, tiêu chí tự chấm điểm; Bảng tổng hợp kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân).

- Thời hạn niêm yết công khai: 10 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc tự chấm điểm (ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Báo cáo đánh giá kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật).

50. Sau khi công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phải tiến hành công bố công khai, rộng rãi kết quả cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn. Xin hỏi, việc công bố được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Tại khoản 2 Điều 8 Quyết định 619/QĐ-TTg quy định Ủy ban nhan dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật như sau:

- Đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện: Chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải công bố danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cấp huyện.

- Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải công bố danh sách cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và danh sách cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cấp tỉnh.

51. Theo quy định, đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã là một chỉ tiêu tiếp cận pháp luật; đồng thời còn là điều kiện để xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của cấp xã. Xin hỏi, việc đánh giá sự hài lòng được thực hiện bằng những hình thức nào?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 7 Quyết định 619/QĐ-TTg, việc đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính có thể được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

- Thực hiện đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính thông qua phiếu lấy ý kiến, bảng điện tử hoặc hình thức phù hợp khác tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Kết hợp với đánh giá sự hài lòng của người dân về xây dựng nông thôn mới hoặc chỉ số cải cách thủ tục hành chính hằng năm. Trong trường hợp kết hợp thì nội dung đánh giá sự hài lòng của người dân về xây dựng nông thôn mới hoặc chỉ số cải cách thủ tục hành chính hằng năm phải có những nội dung theo Mẫu số 02-TCPL-II Thông tư số 07/2017/TT-BTP để tổng hợp theo yêu cầu của việc đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

52. Một trong các nhiệm vụ đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật ở địa phương là đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã. Để triển khai thực hiện nhiệm vụ này, đề nghị cho biết Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP, Ủy ban các cấp có trách nhiệmtrong thực hiện đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi tham gia thủ tục hành chính trong đánh gía cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật như sau:

a) Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Căn cứ các hình thức đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã theo quy định tại Thông tư số 07/2017/TT-BTP và điều kiện, yêu cầu thực tế của nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại địa phương, có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể về hình thức và thời điểm tổ chức đánh giá sự hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã.

b) Đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện:

- Trên cơ sở hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về hình thức và thời điểm tổ chức đánh giá sự hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã trên địa bàn cấp tỉnh, có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.

- Trên cơ sở báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn kèm theo các giải pháp thúc đẩy, duy trì kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (đối với cấp xã đã được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật) hoặc các giải pháp khắc phục hạn chế, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật (đối với cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật).

c) Đối với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã: Chỉ đạo, phân công công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp công chức Tư pháp – Hộ tịch tổ chức đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính như sau:

- Đề xuất đối tượng, số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn cấp xã theo chỉ đạo hằng năm của cơ quan có thẩm quyền.

- Hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện đánh giá sự hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn cấp xã; tổng hợp, xử lý kết quả đánh giá sự hài lòng; xây dựng bảng tổng hợp kết quả theo mẫu quy định tại Điều 3 Thông tư số 07/2017/TT-BTP.

- Lưu trữ hồ sơ, tài liệu phục vụ việc đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn cấp xã theo quy định.

- Phối hợp, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thực hiện giám sát kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã.

53. Khi lập kế hoạch tổ chức đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân, xã M dự kiến sẽ tổ chức đánh giá theo định kỳ hằng quý. Kết quả đánh giá sự hài lòng của năm sẽ là kết quả trung bình của các lần đánh giá đó? Xin hỏi, xã M tiến hành đánh giá sự hài lòng như vậy có đúng hay không?

 Trả lời:

 Tại điểm a khoản 4 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định việc tổ chức đánh giá sự hài lòng bằng Phiếu lấy ý kiến được thực hiện nhiều lần vào cuối tháng, cuối quý hoặc 06 tháng một lần theo điều kiện thực tế của địa phương nhưng phải bảo đảm đối tượng, số lượng tham gia đánh giá theo quy định.

Theo đó, việc lập kế hoạch và dự kiến thời gian tổ chức đánh giá sự hài lòng của xã M trong tình huống nêu trên là phù hợp với quy định, nhưng khi triển khai hoạt động này xã M cần lưu ý về đối tượng và số lượng tham gia đánh giá theo hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Thông tư số 07/2017/TT-BTP:

- Đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng bao gồm tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã và đã được trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong năm đánh giá hoặc năm trước liền kề năm đánh giá.

- Số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng hằng năm của mỗi đơn vị cấp xã do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) hướng dẫn nhưng tối thiểu phải đạt từ 15% trở lên số lượt thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá.

54. Xin hỏi, việc đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính bằng Phiếu lấy ý kiến được giao cho ai và được thực hiện thông qua cách thức như thế nào?

Trả lời:

Việc đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính bằng Phiếu lấy ý kiến được quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP như sau:

- Trường hợp gửi hoặc phát Phiếu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:

Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân trả lời đầy đủ nội dung và yêu cầu của Phiếu lấy ý kiến khi tiếp nhận hồ sơ hoặc khi trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của tổ chức, cá nhân.

Khi trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp Phiếu lấy ý kiến vào thùng, hòm đựng phiếu đặt tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

- Trường hợp Phiếu lấy ý kiến được gửi, phát theo cách thức điều tra:

Cán bộ điều tra là người có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân trả lời đầy đủ nội dung và yêu cầu của Phiếu lấy ý kiến; thu nhận, tổng hợp Phiếu lấy ý kiến và bàn giao đầy đủ cho công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã để xử lý, tổng hợp kết quả theo quy định.

55. Theo mục 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, tôi thấy có 02 cách chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật: (1) Chấm điểm theo công thức và (2) Chấm điểm dựa trên số điểm đã được quy định tại Phụ lục I. Đề nghị hướng dẫn cụ thể hơn về 02 cách chấm điểm này?

Trả lời:

Mục 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP hướng dẫn có 02 cách tính điểm như sau:

a) Chấm điểm theo công thức được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP.

Cách chấm điểm này áp dụng đối với các chỉ tiêu được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%). Trong tổng số 25 chỉ tiêu, có 17 nội dung, chỉ tiêu được chấm điểm theo công thức, bao gồm: Nội dung 2 của chỉ tiêu 1 và nội dung 1 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 1; nội dung 1 của chỉ tiêu 1 và các chỉ tiêu 3, 4, 5 thuộc tiêu chí 2; nội dung 1 của chỉ tiêu 1, chỉ tiêu 2 và nội dung 2 của chỉ tiêu 9 thuộc tiêu chí 3; chỉ tiêu 2 thuộc tiêu chí 4; các chỉ tiêu 1, 2, 3, 4, 5 thuộc tiêu chí 5. Theo đó, việc chấm điểm các nội dung, chỉ tiêu theo công thức như sau:

Số điểm của chỉ tiêu = (Tỷ lệ % đạt được x Số điểm tối đa của chỉ tiêu)/100

b) Chấm điểm dựa trên số điểm đã được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP

Cách chấm điểm này áp dụng đối với các chỉ tiêu không xác định theo tỷ lệ phần trăm (%). Theo đó, trong tổng số 25 chỉ tiêu, có 33 nội dung, chỉ tiêu được chấm điểm theo cách thức này, bao gồm: nội dung 1, 3 của chỉ tiêu 1, chỉ tiêu 2 và nội dung 2, 3 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 1; nội dung 2, 3 của chỉ tiêu 1và chỉ tiêu 2 của tiêu chí 2; nội dung 2 của chỉ tiêu 1, các chỉ tiêu 3, 4, 5, 6, 7, 8 và nội dung 1, 3 của chỉ tiêu 9 thuộc tiêu chí 3; chỉ tiêu 1, chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 4.

Cách chấm điểm này có 02 trường hợp cần lưu ý:

Thứ nhất, đối với các nội dung, chỉ tiêu được chấm điểm theo hướng lựa chọn phương án trả lời theo từng mức độ hoàn thành nhiệm vụ (cụ thể là: nội dung 1, 3 của chỉ tiêu 1 và nội dung 2 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 1; nội dung 2 của chỉ tiêu 1 và nội dung 1, 2 của chỉ tiêu 2 thuộc tiêu chí 2; chỉ tiêu 3, 4, nội dung 2 của chỉ tiêu 5, nội dung 2 của chỉ tiêu 6 và nội dung 1 của chỉ tiêu 7 thuộc tiêu chí 3; nội dung 2 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 4) thì cần lựa chọn một trong các phương án trả lời (a hoặc b hoặc c) và cho điểm tối đa.

Thứ hai, đối với các nội dung, chỉ tiêu mà tổng số điểm được tính theo hướng là tổng hợp điểm số của từng nội dung thành phần (ví dụ: nội dung 3 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 1; nội dung 3 của chỉ tiêu 1 thuộc tiêu chí 2; nội dung 2 của chỉ tiêu 1, nội dung 2, 3 của chỉ tiêu 7 thuộc tiêu chí 3; mục 2.1, 2.2. nội dung 2 của chỉ tiêu 3 thuộc tiêu chí 4) thì tiến hành đánh giá việc thực hiện từng nội dung thành phần để cho điểm và tổng hợp điểm.

56. Ủy ban nhân dân tỉnh G ban hành Công văn hướng dẫn các đơn vị cấp xã trên địa bàn tổ chức đánh giá tiếp cận pháp luật, trong đó có nội dung hướng dẫn số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng của mỗi đơn vị cấp xã trên địa bàn 20% số lượt thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá. Khi tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã tổ chức đánh giá tiếp cận pháp luật, công chức được giao nhiệm vụ này của xã Y cho rằng xã cần thực hiện theo quy định của Thông tư số 07/2017/TT-BTP với số lượng đối tượng tham gia đánh giá tối thiểu đạt 15% số lượt thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá.  Xin hỏi, cách xác định của công chức xã Y có đúng không?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định: “Số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng hằng năm của mỗi đơn vị cấp xã do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) hướng dẫn nhưng tối thiểu phải đạt từ 15% trở lên số lượt thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá.”

Trên cơ sở tỷ lệ tối thiểu theo quy định của Thông tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể hướng dẫn cụ thể số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng trên địa bàn với tỷ lệ cao hơn (trường hợp này là 20%) để phù hợp với thực tiễn của địa phương là phù hợp với quy định của Thông tư.

Trong tình huống nêu trên, xã Y phải căn cứ vào hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh G để xác định số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng. Nếu Ủy ban nhân dân tỉnh G không có hướng dẫn, thì khi đó xã Y mới căn cứ vào quy định tỷ lệ % tối thiếu đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP để tổ chức thực hiện.

57. Trong quá trình chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật của xã tôi, tôi thấy điểm số của một số chỉ tiêu có 4 đến 5 chữ số thập phân. Đề nghị cho biết có thể làm tròn điểm số các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật không? Nếu được làm tròn điểm số thì cách thức thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Mục 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP hướng dẫn cách làm tròn số như sau: 

a) Điểm số của từng chỉ tiêu được lấy đến hai chữ số thập phân. Sau khi cộng điểm của tất cả các chỉ tiêu nếu tổng số điểm có giá trị thập phân dưới 0,5 điểm thì làm tròn xuống, nếu có giá trị thập phân từ 0,5 điểm trở lên thì làm tròn lên.

Ví dụ: Số điểm của chỉ tiêu (chưa làm tròn) là 4,4165 điểm thì số điểm của chỉ tiêu sau khi đã làm tròn là 4,42 điểm.

b) Sau khi cộng điểm của tất cả các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, nếu tổng số điểm có giá trị thập phân dưới 0,5 điểm thì làm tròn xuống, nếu có giá trị thập phận từ 0,5 điểm trở lên thì làm tròn lên:

Ví dụ:

- Tổng số điểm của các chỉ tiêu từ 89,01 đến 89,49 làm tròn là 89 điểm.

- Tổng số điểm của các chỉ tiêu từ 75,5 đến 75,99 làm tròn là 76 điểm.

58. Xã G đã đăng ký đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới. Thời điểm đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới dự kiến là tháng 01 năm 2018. Xin hỏi, xã G có thể sử dụng kết quả đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2017 để xét, đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg, việc rà soát, đánh giá, chấm điểm, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được tiến hành hằng năm, tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12. Thời hạn để hoàn thành việc đánh giá cấp xã tiếp cận pháp luật là trước ngày 05/1 (đối với  cấp xã) và ngày 25/01 (đối với cấp huyện) của năm liền kề sau năm đánh giá.

Thời điểm đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới của xã G dự kiến vào tháng 01/2018 đồng thời với thời điểm đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận năm 2017.

Theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 07/017/TT-BTP: “Trong trường hợp việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được tổ chức đồng thời với đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì sử dụng kết quả đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm đánh giá để xét, đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới.”.

Vì vậy, xã G sẽ sử dụng kết quả đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm 2017 để xét, đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2018.

59. Tháng 8/2018, xã I dự kiến thực hiện xét, đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới theo kế hoạch. Xin hỏi, xã I phải sử dụng kết quả đánh giá tiếp cận pháp luật của năm 2017 hay năm 2018 để xét, đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 7 Quyết định số 619/QĐ-TTg, việc rà soát, đánh giá, chấm điểm, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được tiến hành hằng năm và hoàn thành là trước ngày 05/1 (đối với  cấp xã) và ngày 25/01 (đối với cấp huyện) của năm liền kề sau năm đánh giá.

Trong trường hợp này, việc đánh giá chuẩn nông thôn mới của xã I được thực hiện vào tháng 8/2018, nghĩa là trước thời điểm hoàn thành đánh giá tiếp cận pháp luật năm 2018 (hoàn thành trước ngày 25/01/2018). Để tạo sự linh hoạt, chủ động cho địa phương, tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định: “Trong trường hợp việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được tổ chức trước thời điểm đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng kết quả đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm trước liền kề năm đánh giá hoặc sử dụng kết quả của năm đánh giá nhưng phải tuân thủ quy định tại Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.”

Như vậy, việc sử dụng kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm đánh giá hay năm trước liền kề năm đánh giá đối với trường hợp của xã I nêu trên được thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Theo đó, xã I phải căn cứ vào hướng dẫn cụ thể của Ủy ban nhân dân tỉnh để thực hiện việc sử dụng kết quả đánh giá sự hài lòng cho phù hợp, đúng quy định, bảo đảm tiến độ đánh giá nông thôn mới.

60. Hiện xã tôi bố trí diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân xã là 39 m2, trong đó dành 60% diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch. Xin hỏi, khi chấm điểm nội dung “Đảm bảo diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” của Tiêu chí 2 thuộc Chỉ tiêu 2, xã có bảo đảm diện tích của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo quy định không? Điểm số chấm về nội dung này của xã tôi được xác định như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 9 Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg quy định diện tích làm việc tối thiểu của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã là 40 m2 và trong tổng diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải dành khoảng 50% diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch.

Như vậy, diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân xã anh/chị chưa bảo đảm quy định nhưng lại bảo đảm quy định về diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch.

Theo quy định của Tiêu chí 2 thuộc Chỉ tiêu 2 Phục lục I Thông tư số 07/2017/TT-BTP, nếu đảm bảo diện tích làm việc tối thiểu và diện tích bố trí ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch theo quy định trên thì được 0,5 điểm; nếu không đảm bảo diện tích nêu trên thì được 0,25 điểm của nội dung này.

Như vậy, điểm số nội dung này của xã anh/chị là 0,25 điểm.

61. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017. Năm 2017 là năm đầu tiên triển khai đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật để xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Vậy mục tiêu của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ này là gì?

Trả lời:

Ngày 08/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định về xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, trong đó đề ra 05 tiêu chí và 25 chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Hằng năm, cấp xã sẽ tổ chức đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu này để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xét, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nếu có đủ điều kiện công nhận. Việc thực hiện nhiệm vụ này có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, đánh giá tổng thể những kết quả đạt được giúp chính quyền các cấp, nhất là cấp xã có điều kiện nhận diện những khó khăn, hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc phạm vi đánh giá. Từ đó, đề ra các giải pháp khắc phục, nâng cao trách nhiệm quản lý, thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Điều 3 Quyết định số 619/QĐ-TTg đã xác định các mục tiêu xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật như sau:

- Nâng cao nhận thức pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được thông tin về pháp luật; kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật trên địa bàn cấp xã.

- Tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành Hiến pháp, pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ.

- Cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

62. Qua khảo sát tình hình thực tế triển khai nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, một số cấp xã và công chức được giao theo dõi, tham mưu triển khai nhiệm vụ này có phản ánh nội dung và phạm vi của các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật rất rộng, vượt ra ngoài phạm vi nhiệm vụ của công chức Tư pháp – Hộ tịch, do đó rất khó khăn cho việc đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu này? Vậy kinh nghiệm của các địa phương khác trong triển khai nhiệm vụ này như thế nào để đạt kết quả tốt nhất?

Trả lời:

Theo Quyết định số 619/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2017/TT-BTP, nội dung của các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật rất rộng, bao trùm hầu hết các lĩnh vực hoạt động của chính quyền cấp xã và do nhiều công chức chuyên môn cấp xã tham mưu triển khai thực hiện tương ứng với phạm vi và nhiệm vụ của từng vị trí công chức chuyên môn cấp xã. Cụ thể gồm: Tiêu chí 1 (Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật); Tiêu chí 2 (Thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã); Tiêu chí 3 (Phổ biến, giáo dục pháp luật); Tiêu chí 4 (Hòa giải ở cơ sở); Tiêu chí 5 (Thực hiện dân chủ ở cơ sở).

Với 5 tiêu chí và 25 chỉ tiêu đó, nhiều chỉ tiêu, tiêu chí không thuộc nhiệm vụ tham mưu triển khai của công chức Tư pháp – Hộ tịch (ví dụ chỉ tiêu về tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính về xây dựng, giáo dục và đào tạo…; chỉ tiêu về giải quyết khiếu nại, tố cáo…). Do vậy, khi triển khai thực hiện đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu này, công chức Tư pháp – Hộ tịch cần tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng công chức chuyên môn cấp xã. Việc theo dõi, đánh giá, tự chấm điểm và phối hợp với công chức Tư pháp – Hộ tịch triển khai thực hiện thật tốt nhiệm vụ này để huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng cấp. Hằng năm, với vị trí đầu mối tham mưu triển khai thực hiện, công chức Tư pháp – Hộ tịch cần tham mưu tổ chức rà soát tổng thể các nhiệm vụ đã được cụ thể hóa trong các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật để đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã phân công giao nhiệm vụ cho các công chức chuyên môn trong việc theo dõi, rà soát, chấm điểm, đánh giá, đề xuất giải pháp đối với nhiệm vụ được giao đảm nhiệm. Chẳng hạn, có thể đề xuất, tham mưu giao nhiệm vụ theo dõi, rà soát, chấm điểm, đánh giá, đề xuất giải pháp thực hiện Chỉ tiêu 2 (an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, không để xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) trên địa bàn cấp xã được kiềm chế, có giảm so với năm trước) thuộc Tiêu chí 1 cho Công an cấp xã.

Để triển khai nhiệm vụ được thống nhất, đồng bộ ở các cấp, một số địa phương đã ban hành Kế hoạch triển khai, trong đó phân công rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của các sở, ban, ngành cấp tỉnh; các đầu mối công chức chuyên môn của cấp xã trong việc theo dõi, tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Trong đó, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch được giao theo dõi, tham mưu thực hiện các Tiêu chí về Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hòa giải ở cơ sở, một số nội dung hoặc chỉ tiêu của Tiêu chí 1 về Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật (xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật…); Sở Tài chính, Phòng Tài chính, công chức Tài chính – Kế hoạch được giao theo dõi, tham mưu thực hiện các nội dung hoặc chỉ tiêu về kinh phí (phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở)…

63. Để thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật, Phòng Tư pháp huyện N đã tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp số lượng thành viên Hội đồng là 15 người nhưng không được đồng ý do Đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân cho rằng có một số huyện trên địa bàn tỉnh đã thành lập Hội đồng với 11 người tham gia, vì thế đề nghị  giảm số thành viên cho thống nhất. Vậy thành phần và số lượng thành viên Hội đồng được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Quyết định số 619/QĐ-TTg, Thông tư số 07/2017/TT-BTP, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật là thiết chế tư vấn, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức việc đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Hội đồng chỉ được thành lập ở cấp huyện. Thành phần, số lượng thành viên tham gia Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định cho phù hợp với thực tế nhưng tối đa không quá 15 người. Quy định này nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt, bảo đảm thành lập Hội đồng phù hợp với thực tiễn, tránh tính hình thức.

Như vậy, số lượng thành viên tham gia Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định nhưng không quá 15 người. Số lượng cụ thể phải căn cứ vào điều kiện thực tiễn của địa phương bảo đảm có đủ cơ cấu, thành phần theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 07/2017/TT-BTP Trên cùng địa bàn cấp tỉnh, số lượng thành viên Hội đồng của các đơn vị cấp huyện có thể khác nhau, không nhất thiết phải có số lượng thống nhất, bằng nhau.

64. Khi thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật huyện K, có ý kiến đề nghị thành lập, duy trì Hội đồng thường xuyên, liên tục. Có ý kiến đề nghị thành lập theo mô hình Hội đồng tư vấn thẩm định, sau khi hoàn thành việc tư vấn về kết quả đánh giá thì Hội đồng tự giải thể, thành lập theo cách này sẽ bảo đảm thành phần tham gia của Hội đồng phù hợp với yêu cầu đánh giá của từng năm. Vậy trong trường hợp này ý kiến nào là phù hợp?

Trả lời:

 Thành phần, số lượng thành viên, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động, làm việc của Hội đồng, thành viên Hội đồng thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 07/2017/TT-BTP.

Việc thành lập Hội đồng hằng năm và Hội đồng sẽ tự giải thể sau khi hoàn thành việc tư vấn, cho ý kiến về kết quả đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hay thành lập, duy trì Hội đồng theo hướng ổn định, lâu dài do các địa phương chủ động, quyết định phù hợp với điều kiện thực tế. Mỗi cách thức thành lập, duy trì Hội đồng đều có ưu điểm, hạn chế.

Chẳng hạn thành lập Hội đồng hằng năm thì sẽ tránh được việc theo dõi, rà soát, kiện toàn thành viên Hội đồng mỗi khi có thành viên nghỉ chế độ, chuyển công tác nhưng lại phải thành lập mới Hội đồng hằng năm. Còn việc thành lập Hội đồng theo hướng ổn định, lâu dài sẽ thuận lợi hơn cho từng thành viên Hội đồng trong việc theo dõi, tham mưu thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng nếu Hội đồng không có sự phân công, phân nhiệm và phương pháp làm việc khoa học, được kiện toàn kịp thời nếu có thành viên thay đổi, nghỉ chế độ hoặc chuyển công tác thì có khả năng dẫn đến hoạt động hình thức.

65. Ủy ban nhân dân huyện giao tôi tham mưu việc thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật. Vậy trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật?

Trả lời:

Quyết định số 619/QĐ-TTg, Thông tư số 07/2017/TT-BTP không quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật. Tuy nhiên, qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng trong đánh giá, công nhận, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng như thành phần, mối quan hệ phối hợp giữa Hội đồng với cơ quan, tổ chức có liên quan cho thấy trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xem xét, quyết định thành lập Hội đồng; số lượng thành viên Hội đồng, giao nhiệm vụ cho Hội đồng

b) Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp việc thành lập Hội đồng bao gồm:

- Dự kiến số lượng và cơ cấu đại diện cơ quan, đơn vị tham gia thành viên Hội đồng.

- Phòng Tư pháp cần lưu ý để bảo đảm hiệu quả hoạt động của Hội đồng, việc đề xuất số lượng, dự kiến cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 07/2017/TT-BTP và điều kiện thực tế của địa phương, thực trạng, kết quả thực hiện các tiêu chí tiếp cận pháp luật.

- Trên cơ sở số lượng, danh sách cơ quan, đơn vị tham gia Hội đồng đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt, Phòng Tư pháp đề nghị các cơ quan, đơn vị tham gia Hội đồng cử cán bộ tham gia, dự thảo Quyết định thành lập Hội đồng và phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân xem xét, quyết định.

- Trong mối quan hệ phối hợp, Phòng Tư pháp là cơ quan thường trực Hội đồng có trách nhiệm chuẩn bị tài liệu cuộc họp gửi thành viên Hội đồng; tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp, bổ sung thông tin, tài liệu cho Hội đồng về các nội dung cần yêu cầu giải trình, bổ sung làm rõ; hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; tổng hợp đề xuất của thành viên Hội đồng để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định; tham mưu để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền giải pháp xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn.  

66. Trên thực tế một số địa phương đã gặp lúng túng trong quá trình chuẩn bị thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật, trong đó có việc áp dụng các mẫu văn bản phục vụ việc thành lập, hoạt động của Hội đồng. Xin hỏi hiện có các biểu mẫu nào có thể tham khảo trong mẫu văn bản nào?

Trả lời:

Trong số biểu mẫu phục vụ việc tổ chức đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, chỉ có biểu mẫu 06-TCPL-II về biên bản họp Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật.

Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật, cơ quan được giao tham mưu việc thành lập Hội đồng có thể tham khảo một số biểu mẫu tại Phụ lục III trong Sổ tay hướng dẫn xây dựng xã, phường, thị trấn  đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Nhà xuất bản Tư pháp, tháng 12/2017), cụ thể là: Mẫu Quyết định về việc thành lập Hội đồng; mẫu Quyết định ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng.

  67. Trong quá trình triển khai Quyết định số 619/QĐ-TTg, có ý kiến cho rằng theo Quyết định này, trách nhiệm và nhiệm vụ Sở Tư pháp có vẻ mờ nhạt. Vậy Sở Tư pháp có trách nhiệm gì trong triển khai nhiệm vụ này?

Trả lời:

Theo Quyết định số 619/QĐ-TTg, việc đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tập trung vào cấp xã. Vì vậy, việc chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện với tư cách là cơ quan pháp lý cấp trên trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp xã. Việc giao thẩm quyền xem xét, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho Chủ tịch UBND cấp huyện là phù hợp với tinh thần phân cấp theo Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, không vì vậy mà Sở Tư pháp không có vai trò, trách nhiệm. Theo Khoản 5 Điều 10 Sở Tư pháp là đầu mối tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo Quy định. Cụ thể: thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, chỉ đạo, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, chính quyền các cấp và cơ quan, tổ chức, cá nhân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn , tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; sơ kết, tổng kết, thống kê, báo cáo, theo dõi kết quả, kiểm tra, khen thưởng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; phân công cơ quan chuyên môn và bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ; thực hiện các giải pháp xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hằng năm (Điều 4, khoản 8 Điều 7, khoản 2 Điều 9, khoản 4 Điều 10 Quyết định số 619/QĐ-TTg). Đồng thời, Thông tư số 07/2007/TT-BTP còn quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khoản 2 Điều 7, trách nhiệm của Sở Tư pháp tại khoản 3 Điều 7.

68. Theo Quyết định số 619/QĐ-TTg, kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở sẽ là một trong những chỉ tiêu đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Nhưng trên thực tế, nhiều địa phương chưa nắm vững các quy định về kinh phí đối với các hoạt động này. Vậy khi tham mưu triển khai nhiệm vụ này cần căn cứ vào văn bản nào?

Trả lời:

Đối với kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, cần bám sát các quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Nghị định số 28/2013/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP để tham mưu, lập dự toán và thanh quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Khi triển khai thực hiện các quy định sẽ  trực tiếp góp phần thực hiện hiệu quả Tiêu chí 3 về Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và chỉ tiêu về kinh phí bảo đảm cho các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm của cấp xã.

Đối với kinh phí bảo đảm cho công tác hòa giải cơ sở, cần bám sát các quy định của Luật Hòa giải cơ sở; Nghị định số 15/2014/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 100/2015/TTLT-BTC-BTP để tham mưu, lập dự toán và thanh quyết toán kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở và chi hỗ trợ hòa giải viên và tổ hòa giải. Khi triển khai thực hiện các quy định này sẽ góp phần thực hiện hiệu quả Tiêu chí 4 về Hòa giải ở cơ sở nói chung và chỉ tiêu về bảo đảm kinh phí, hỗ trợ kinh phí hòa giải ở cơ sở.

Theo Nghị định số 96/2017/NĐ-CP, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Các Bộ, ngành, địa phương cần căn cứ nội dung về xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, trách nhiệm quy định tại các Điều 4, Điều 9, Điều 10 Quyết định số 619/QĐ-TTg và các văn bản quy định về kinh phí triển khai xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật, thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật; Thông tư số 43/2017/TT-BTC về kinh phí triển khai  Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020) trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.

69. Năm 2018, sau khi tổ chức tự đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật, thị trấn A thấy đủ điều kiện công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật nên đã gửi hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân huyện xem xét, công nhận đạt chuẩn. Ủy ban nhân dân huyện đã có văn bản yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn bổ sung các tài liệu kiểm chứng. Vậy những tài liệu kiểm chứng ở đây bao gồm những tài liệu gì?

Trả lời:

Tài liệu kiểm chứng là những văn bản, số liệu, kết quả minh chứng cho việc chấm điểm từng chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật của Ủy ban nhân dân thị trấn là khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng và kết quả triển khai các nhiệm vụ đã được xác định trong các tiêu chí, chỉ tiêu đó, qua đó giúp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét một cách đúng đắn, hợp lý đề nghị công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của Ủy ban nhân dân thị trấn.

Các tài liệu kiểm chứng trong đánh giá, chấm điểm một số chỉ tiêu tiếp cận pháp luật đã được quy định cụ thể trong Sổ tay hướng dẫn xây dựng xã, phường, thị trấn  đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Nhà xuất bản Tư pháp, tháng 12/2017), trong đó có một số tài liệu kiểm chứng như:

Đối với chỉ tiêu 3 của Tiêu chí 1 (Giải quyết khiếu nại tố cáo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn; không có hoặc giảm khiếu nại, tố cáo kéo dài trên địa bàn cấp xã so với năm trước), tài liệu kiểm chứng có thể là Sổ theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo; báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đối với chỉ tiêu 8 của Tiêu chí 3 (Tổ chức đối thoại chính sách, pháp luật theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương), tài liệu kiểm chứng có thể là báo cáo kết quả tổ chức đối thoại, biên bản tổ chức đối thoại…

70. Khi đánh giá, chấm điểm một số chỉ tiêu có nội dung bị 0 điểm và bị trừ 0,25 điểm. Vậy khi đánh giá, chấm điểm trên thực tế nếu chỉ tiêu đó không có điểm để trừ thì sẽ trừ điểm như thế nào?

Trả lời:

Theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP có 05/25 chỉ tiêu có nội dung sẽ bị 0 điểm và bị trừ 0,25 điểm, bao gồm: nội dung 4 của Chỉ tiêu 2 Tiêu chí 1; nội dung 4 Chỉ tiêu 2 Tiêu chí 2; nội dung 2 Chỉ tiêu 8 và nội dung 3 Chỉ tiêu 9 Tiêu chí 3; nội dung 3 Chỉ tiêu chí 4.

Việc trừ điểm được thực hiện như sau: Trường hợp chỉ tiêu vẫn còn điểm để trừ thì trừ điểm của chỉ tiêu đó. Trường hợp chỉ tiêu không có điểm để trừ thì trừ điểm từ tiêu chí chứa chỉ tiêu đó.

71. Khi xã tổ chức họp đánh giá về kết quả chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, liên quan đến kết quả thực hiện nội dung 3 về thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân (Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 1) đã có 02 ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng kết quả này phải được đánh giá, chấm điểm trên cơ sở kết quả tổ chức tiếp công dân của cả cấp ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã. Ý kiến thứ hai cho rằng chỉ tiêu này chỉ yêu cầu đánh giá, chấm điểm đối với những việc tiếp công dân thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã. Vậy đâu là ý kiến nào đúng?

Trả lời

Thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân là nội dung 3 của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 1. Tại Điều 15 Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định việc tiếp công dân ở xã, phường, thị trấn như sau:

1. Việc tiếp công dân của cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ: Ban hành nội quy tiếp công dân; bố trí địa điểm thuận lợi và các điều kiện cần thiết khác cho việc tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân; phân công người tiếp công dân; trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân ít nhất 01 ngày trong 01 tuần và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất theo quy định; phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân; tổng hợp tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, báo cáo định kỳ và đột xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Như vậy, trong tình huống nêu trên ý kiến thứ nhất là đúng vì thể hiện mối quan hệ  giữa cấp ủy, chính quyền cơ sở với nhân dân  gắn với  trách nhiệm bảo đảm thực hiện của UBND cấp xã. Theo đó, kết quả đánh giá, chấm điểm đối với nội dung “thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân” phải là tổng hợp kết quả của công tác tiếp công dân trên địa bàn cấp xã trong năm đánh giá, bao gồm kết quả tiếp công dân của cấp ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã.

          72. Cách tính điểm đối với nội dung 3 “Thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân” trong Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 1 (Phụ lục I kèm Thông tư số 07/2017/TT-BTP) được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo Phụ lục I kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, nội dung “Thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân” tại chỉ tiêu 3, tiêu chí 1 được tính điểm như sau:

- Bảo đảm các điều kiện tiếp công dân và tổ chức tiếp công dân đúng quy định: 0,5 điểm;

- Kiến nghị, phản ánh qua tiếp công dân được cấp xã giải quyết đúng thời hạn và thông báo cho người đã đến kiến nghị, phản ánh bằng hình thức theo quy định của pháp luật: 0,5 điểm.

Điểm của nội dung 3 sẽ là tổng điểm các nội dung thành phần. Do vậy, công chức cấp xã được giao đầu mối tham mưu thực hiện sẽ phải căn cứ vào kết quả thực tế để tiến hành đánh giá và chấm điểm cả 02 nội dung thành phần nêu trên.

73. Hiện nay có một số địa phương gặp lúng túng khi chấm điểm, đánh giá chỉ tiêu về công khai văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung có liên quan đến tổ chức, cá nhân trên địa bàn theo Danh mục thông tin phải được công khai. Vậy việc lập, cập nhật, công khai Danh mục thông tin này được thực hiện theo quy định nào?

Trả lời:

Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung có liên quan đến tổ chức, cá nhân trên địa bàn là một trong những thông tin mà Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định phải được công khai rộng rãi (khoản 1 Điều 17). Thực hiện công khai các văn bản này được quy định tại Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 3 về Phổ biến, giáo dục pháp luật. Chỉ tiêu này có điểm số tối đa là 02 điểm và được cụ thể hóa thành 02 nội dung: i) Thực hiện công khai theo quy định hoặc theo Danh mục thông tin phải được công khai (01 điểm); ii) Thực hiện cập nhật, công khai thông tin pháp luật đúng thời điểm, thời hạn, hình thức theo quy định hoặc Danh mục thông tin phải được công khai (01 điểm).

Theo đó, Danh mục thông tin phải được công khai là cơ sở để xác định kết quả thực hiện công khai thông tin, là căn cứ xác định điểm số đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu nêu trên. Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin có trách nhiệm chủ động lập, cập nhật, công khai Danh mục thông tin phải được công khai và đăng tải Danh mục trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; thường xuyên cập nhật và công khai thông tin theo đúng thời điểm, thời hạn và hình thức theo Danh mục thông tin phải được công khai.

Như vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao theo dõi, rà soát, đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu về công khai thông tin trên cơ sở Danh mục thông tin được thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và các văn bản hướng dẫn thi hành.

74. Năm 2018, xã K có một người đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động đã vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ và bị xử lý bằng hình thức chấm dứt hợp đồng làm việc. Vậy trường hợp này có ảnh hưởng tới kết quả đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2018 của xã K hay không?

Trả lời:

Điều kiện “Trong năm không có cán bộ, công chức cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên do vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra” (khoản 1 Điều 6 Quyết định số 619/QĐ-TTg) áp dụng với đối tượng là cán bộ, công chức cấp xã theo Luật cán bộ, công chức. Trường hợp xã K có người vi phạm làm việc hợp đồng với xã nên không phải là cán bộ, công chức. Do đó, việc người này bị kỷ luật và chấm dứt hợp đồng không ảnh hưởng đến việc chấm điểm, đề nghị công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của xã K.

75. Tại chỉ tiêu 5, tiêu chí 3 về Phổ biến, giáo dục pháp luật có nội dung “Ban hành Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật chậm nhất vào ngày 31 tháng 01 hằng năm”. Năm 2018, xã N ban hành Kế hoạch này vào tháng 02, do đó xã đã chấm điểm cho nội dung này là 0 điểm. Trong khi đó, xã V lại chấm 0,3 điểm vì cho rằng xã chỉ ban hành chậm hơn so với thời hạn quy định và đây cũng không thuộc trường hợp bị 0 điểm theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP. Vậy việc chấm điểm đối với đối với trường hợp nêu trên được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Ban hành Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật chậm nhất vào ngày 31 tháng 01 hằng năm là nội dung 1 của Chỉ tiêu 5 thuộc Tiêu chí 3. Nội dung này có số điểm tối đa là 0,5 điểm. Ở đây, để nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã và bảo đảm xây dựng, ban hành Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm được kịp thời, chỉ tiêu này yêu cầu phải thực hiện đúng tiến độ thì mới được tính điểm, còn các trường hợp ban hành Kế hoạch sau ngày 31 tháng 01 thì đều bị tính 0 điểm.

Như vậy, việc chấm điểm của xã N đối với nội dung nêu trên là đúng quy định. Còn xã V cho điểm thấp hơn mức điểm tối đa với lý do không thuộc trường hợp các văn bản quy định bị 0 điểm là không đúng.

76. Cách tính điểm đối với nội dung “đảm bảo trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” và nội dung “công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo yêu cầu, thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định” được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

 Các nội dung nêu trên là những nội dung thành phần của Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 2. Cách tính điểm các nội dung này được thực hiện như sau:

- Đối với nội dung “Đảm bảo trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”: Có điểm số tối đa là 0,5 điểm, trong đó thuộc một trong hai trường hợp sau đây thì được chấm điểm số tương ứng:

+ Đảm bảo trang thiết bị đầy đủ theo quy định: 0,5 điểm

+ Chưa đảm bảo trang thiết bị đầy đủ theo quy định: 0,25 điểm

- Đối với nội dung “Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo yêu cầu, thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định”: Có điểm số tối đa là 1 điểm.

Trường hợp không bố trí, không đảm bảo yêu cầu, trách nhiệm theo quy định về đảm bảo diện tích làm việc, công chức đảm bảo các yêu cầu, trách nhiệm thì bị 0 điểm và bị trừ 0,25 điểm.

77. Trong Chỉ tiêu 6 của Tiêu chí 3 có quy định về triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù. Nhưng theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, có nhiều nhóm đối tượng đặc thù. Vậy khi đánh giá, chấm điểm thì việc xác định đối tượng đặc thù cần được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Chỉ tiêu 6 của Tiêu chí 3 quy định về việc triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù trên địa bàn thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, khi đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu này cần lưu ý như sau:

Việc xác định các đối tượng đặc thù (hiện đang sinh sống, lao động trên địa bàn và thuộc phạm vi quản lý của cấp xã) được phổ biến, giáo dục pháp luật phải  theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Ví dụ: người dân tộc thiểu số, nạn nhân bạo lực gia đình, người lao động trong doanh nghiệp, người khuyết tật…Nếu trong năm đánh giá trên địa bàn cấp xã chỉ có người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình thì sẽ đánh giá kết quả thực hiện Chỉ tiêu 6 trên cơ sở các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù này.

 78. Khi rà soát, đánh giá, chấm điểm các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, tôi thấy có một số nội dung không thực hiện vẫn được tính điểm tối đa. Vậy tại sao vẫn cho điểm khi không thực hiện?

Trả lời:

Theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP có 05 chỉ tiêu có nội dung không thực hiện mà vẫn được tính điểm với điểm số tối đa, đó là chỉ tiêu 1 của tiêu chí 1, chỉ tiêu 4 của tiêu chí 2, chỉ tiêu 2 và chỉ tiêu 3 của tiêu chí 3, chỉ tiêu 1 của tiêu chí 4.

Việc quy định một số trường hợp được chấm điểm tối đa mặc dù trong năm đánh giá đơn vị cấp xã không thực hiện do xuất phát từ lý do khách quan, trên thực tế không phát sinh nhiệm vụ cho cấp xã. Chằng hạn nhiệm vụ cung cấp công tin theo yêu cầu của công dân, nếu không có công dân có yêu cầu cung cấp thông tin thì không phải do cấp xã không thực hiện mà do thực tế không phát sinh nhiệm vụ này.

79. Hằng năm, các tổ hòa giải trên địa bàn phường X đều được quận tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn hạn chế, nên các tổ hòa giải thường cử hòa giải viên luân phiên tham gia tập huấn. Vì vậy, khi rà soát, chấm điểm nội dung này của nội dung 4 Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 4 về hòa giải cơ sở, chúng tôi cũng lúng túng, không biết có nên chấm mức điểm tối đa hay không?

Trả lời:

Nội dung 4 Chỉ tiêu 1 thuộc Tiêu chí 4 quy định: “Hòa giải viên được bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp tài liệu nghiệp vụ hòa giải do cơ quan cấp trên hoặc cấp xã thực hiện”. Nội dung này có điểm tối đa là 01 điểm. Nội dung này không yêu cầu nhất thiết phải đảm bảo 100% hòa giải viên hằng năm được bồi dưỡng, tập huấn, do đó khi chấm điểm, đánh giá nội dung này cần lưu ý cứ có triển khai tập huấn, bồi dưỡng cho hòa giải viên đã được tính điểm tối đa.

Trong tình huống nêu trên, phường X đã được cấp trên quan tâm, triển khai bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ hòa giải viên của phường, mặc dù việc tập huấn được thực hiện luân phiên, nhưng vẫn có thể chấm điểm cho phường X được số điểm tối đa theo quy định (01 điểm).

          80. Khi tiến hành đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu “Giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải được hòa giải kịp thời theo yêu cầu của các bên”, một số đơn vị cấp xã có cách chấm điểm khác nhau do chưa thống nhất về cách xác định các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải. Vậy những mâu thuẫn, tranh chấp nào thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở?

 

          Trả lời:

Theo Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, phạm vi hòa giải gồm những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

1. Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);

2. Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

3. Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

4. Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

5. Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:

a) Không bị khởi tố vụ án khi có một trong những căn cứ sau đây và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật:

- Không có sự việc phạm tội;

- Hành vi không cấu thành tội phạm;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tội phạm đã được đại xá;

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

b) Pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại khoản 1 các điều quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội làm nhục người khác, Tội vu khống, Tội xâm phạm quyền tác giả, Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp  và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

c) Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án của Bộ luật Tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

d) Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013;

đ) Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.

81. Đề nghị cho biết các nội dung về dân chủ ở cơ sở phải thực hiện công khai, minh bạch là những nội dung nào?

Trả lời:

Theo Điều 5 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, các nội dung mà pháp luật quy định phải công khai để dân biết bao gồm:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ph­ương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.

- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân.

- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp.

- Chủ trư­ơng, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo đư­ợc vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế.

- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007.

- Đối tư­ợng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu.

- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.

- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

          82. Những nội dung nào cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình được bàn, biểu quyết trực tiếp? Cách tính điểm đối với nội dung này theo Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 5 được thực hiện như thế nào?

          Trả lời:

Điều 10 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định các nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp gồm chủ tr­ương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư­ phù hợp với quy định của pháp luật.

Nội dung nêu trên hiện nay đã được xác định tại Chỉ tiêu 2 thuộc Tiêu chí 5, đó là “cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình được bàn, quyết định trực tiếp về các nội dung theo quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở”. Nội dung này có số điểm tối đa là 04 điểm và điểm số thực tế được tính theo công thức quy định cụ thể tại Thông tư số 07/2017/TT-BTP.

Ví dụ: Năm 2018, ủy ban nhân dân xã A tổ chức họp bàn việc xây dựng đường giao thông liên thôn trong xã. Theo đó, các cử tri đến dự họp được bàn 3 nội dung trên tổng số 5 nội dung mà pháp luật quy định cử tri hoặc đại diện hộ gia đình được bàn, quyết định trực tiếp phát sinh trên thực tế. Vậy ta sẽ xác định tỷ lệ % = (3/5) x 100 = 60%. Điểm số của chỉ tiêu này đạt: (60 x  4)/100 = 2,4 điểm.

83. Trên thực tế vẫn xảy ra tình trạng tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính chậm thời hạn. Có trường hợp chậm do vụ, việc có nội dung, tính chất phức tạp, nhưng cũng không ít trường hợp do công chức nhũng nhiễu. Vậy khi chấm điểm chỉ tiêu kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP, có nên phân loại các trường hợp này để chấm theo mức điểm khác nhau hay không?

Trả lời:

Giải quyết các thủ tục hành chính đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định là một chỉ tiêu (chỉ tiêu 3) thuộc tiêu chí 2. Chỉ tiêu này có số điểm tối đa là 10 điểm. Cách chấm điểm chỉ tiêu này thực hiện theo công thức được quy định cụ thể tại Thông tư số 07/2017/TT-BTP, trong đó tỷ lệ % = (Tổng số lượt thủ tục hành chính được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn/Tổng số lượt thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết) x 100.

Việc giải quyết các thủ tục hành chính trên thực tế vẫn còn tình trạng chậm, lý do có thể vì lý do khách quan, có nội dung và tính chất phức tạp hoặc do công chức tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính có thái độ nhũng nhiễu. Tuy nhiên, Thông tư số 07/2017/TT-BTP không quy định các trường hợp thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết chậm thời hạn vì lý do khách quan, hoặc có nội dung và tính chất phức tạp thì vẫn được xác định là giải quyết đúng. Theo đó, khi một thủ tục hành chính đã được giải quyết phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về “đúng trình tự, thủ tục”, đúng “thời hạn” theo quy định.

Trong tình huống nêu trên, khi tiến hành đánh giá, chấm điểm chỉ tiêu về giải quyết thủ tục hành chính, cơ quan, tổ chức có thể phân loại các thủ tục hành chính dựa trên các nguyên nhân, lý do dẫn đến chậm được giải quyết để từ đó có giải pháp khắc phục phù hợp. Nhưng trường hợp chậm vì lý do khách quan không được coi là đã giải quyết đúng theo yêu cầu của Chỉ tiêu 3 thuộc Tiêu chí 2.

Câu 84. Khi tiến hành chấm điểm, đánh giá nội dung “Tổ chức quán triệt, phổ biến mốt số văn bản, chính sách mới ban hành có nội dung liên quan đến thực thi công vụ của cán bộ công chức cấp xã” theo Chỉ tiêu 4, Tiêu chí 3, có ý kiến cho rằng nội dung này còn chung chung, khó có cơ sở để xác định “một số văn bản, chính sách mới ban hành”. Đề nghị hướng dẫn cụ thể hơn đối với nội dung này?

Trả lời:

Tổ chức quán triệt, phổ biến một số văn bản, chính sách mới ban hành có nội dung liên quan đến thực thi công vụ của cán bộ công chức cấp xã là nội dung của chỉ tiêu 4 thuộc tiêu chí 3 với số điểm là 01 điểm. Đây là một trong 03 mức độ cụ thể của chỉ tiêu này.

Thông tư số 07/2017/TT-BTP không quy định cụ thể về “một số văn bản, chính sách mới ban hành”. Tuy nhiên, khi đánh giá, chấm điểm nội dung này cần lưu ý một số yêu cầu như sau:

- Trước hết văn bản, chính sách mới ban hành được hiểu là những văn bản, chính sách được ban hành trong năm đánh giá. Chẳng hạn, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV năm 2017  đã  thông qua 6  luật: Luật Quản lý nợ công (sửa đổi), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, (sửa đổi), Luật Thủy sản (sửa đổi), Luật Quy hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài. Như vậy, có thể xác định đây là những văn bản, chính sách mới của năm 2017.

- Về “một số” văn bản, chính sách mới: Đây là nội dung mang tính định tính, có thể hiểu rằng một hoặc từ hai văn bản trở lên mà không thuộc trường hợp tất cả văn bản theo nội dung a của Chỉ tiêu 4 đều được coi là “một số”. Vì vậy, việc chấm điểm nội dung này trên thực tế có thể chưa đảm bảo công bằng, chằng hạn xã N tổ chức quán triệt, phổ biến được 5/6 văn bản và xã K tổ chức quán triệt, phổ biến được 3/6 văn bản nhưng thực tế 02 xã này có được điểm số bằng nhau. Đây là thực tế mà trong thời gian tới, cơ quan quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa đảm bảo việc đánh giá, chấm được công bằng, rõ ràng hơn.

Câu 85. Việc sử dụng kết quả đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong đánh giá nông thôn mới được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 6 Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định sử dụng kết quả đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới như sau:

1. Trong trường hợp việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được tổ chức đồng thời với đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì sử dụng jeets quả đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm đánh giá để xét, đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới.

2. Trong trường hợp việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được tổ chức trước thời điểm đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng kết quả đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của năm trước liền kề năm đánh giá hoặc sử dụng kết quả của năm đánh giá nhưng phải tuân thủ quy định tại Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Câu 86. Việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được thực hiện theo hướng đăng ký hằng năm và xét để công nhận lại 05 năm một lần. Tuy nhiên, việc đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật lại được tổ chức hằng năm nhưng không có quy định về công nhận lại. Trong khi đó, xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật lại là một tiêu chí thành phần trong 19 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020. Quy định như vậy có gây khó khăn cho địa phương trong tổ chức thực hiện trên thực tế hay không?

Trả lời:

Trong giai đoạn 2016 – 2020, xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã được bổ sung thành tiêu chí thành phần (18.5) thuộc tiêu chí 18. Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật của Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

Việc đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới được thực hiện hằng năm nhưng theo cách thức đăng ký. Những xã đạt được công nhận đạt chuẩn sẽ được xem xét, công nhận lại sau 05 năm kể từ khi đạt chuẩn lần đầu. Còn việc đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng được thực hiện hằng năm nhưng đối với tất cả đơn vị cấp xã trên toàn quốc và không có thủ tục xét công nhận lại. Đây là điểm khác của đánh giá, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và chuẩn tiếp cận pháp luật, xuất phát từ nội dung của tiêu chí tiếp cận pháp luật được gắn với trách nhiệm và nhiệm vụ thường xuyên của chính quyền cấp xã, do đó đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên hằng năm. Quy định này hoàn toàn không gây khó khăn cho việc đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới, trong quá trình đánh giá các chuẩn này, địa phương có thể tổ chức đồng thời khi rơi vào trường hợp trong năm đó xã thuộc diện đăng ký và đánh giá nông thôn mới.

 

Câu 87. Vừa qua, một số đơn vị cấp xã của huyện V đã tổ chức đánh giá sự lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã, trong đó có xã thực hiện lấy ý kiến đối với tổ chức, cá nhân cư trú, lao động, hoạt động trên địa bàn, nhưng có xã không bắt buộc điều kiện này. Vậy cách thực hiện nào là đúng?

Trả lời:

Theo Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP quy định đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính tại cấp xã bao gồm tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã và đã được trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong năm đánh giá hoặc năm trước liền kề năm đánh giá. Số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng hằng năm của mỗi đơn vị cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn nhưng tối thiểu phải đạt từ 15% trở lên số lượng thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá.

Đối chiếu với quy định, trong tình huống nêu trên, nếu các xã tổ chức đánh giá sự hài lòng về thực hiện thủ tục hành chính mà tuân thủ các quy định về số lượng, đối tượng tham gia đánh giá, tuy có chỉ đạo, hướng dẫn rõ hơn theo hướng thu hẹp đối tượng (những cá nhân, tổ chức đang cư trú, hoạt động tại địa bàn xã) cũng đều phù hợp với chủ trương tổ chức đánh giá sự hài lòng.

 Câu 88. Năm nay xã K được chọn để tổ chức làm điểm đánh giá đo lường sự hài lòng về chỉ số cải cách thủ tục hành chính (PAR INDEX). Để tiết kiệm chi phí, công sức, kết quả đánh giá chỉ số này có được sử dụng để đánh giá sự hài lòng về thực hiện thủ tục hành chính theo nhiệm vụ đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật hay không?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP thì đối với cấp xã trong năm đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng thực hiện đo lường sự hài lòng về chỉ số cải cách thủ tục hành chính (chỉ số PAR INDEX) thì có thể lồng ghép đánh giá hoặc sử dụng kết quả của chỉ số này để tính điểm chỉ tiêu 5 về “bảo đảm sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về chất lượng, thái độ phục vụ khi thực hiện thủ tục hành chính” của Tiêu chí 2.

Đối chiếu với quy định, trong tình huống nêu trên, năm nay xã K được chọn để thực hiện đánh giá chỉ số PAR INDEX thì xã có thể tổ chức lồng ghép việc đánh giá chỉ tiêu về sự hài lòng của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính trong đánh giá xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Như vậy, sẽ đảm bảo tiết kiệm về thời gian, công sức, chi phí và triển khai thực hiện việc đánh giá được thống nhất, đồng bộ vì mục đích, ý nghĩa thực hiện đánh giá chỉ số, chỉ tiêu trên đều hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện thủ tục hành chính.

Câu 89. Việc đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân về thực hiện thủ tục hành chính thông qua Phiếu lấy ý kiến được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 07/2017/TT-BTP,việc tổ chức đánh giá sự hài lòng bằng Phiếu lấy ý kiến được thực hiện nhiều lần vào cuối tháng, cuối quý hoặc 06 tháng một lần theo điều kiện thực tế của địa phương nhưng đối tượng, số lượng đối tượng tham gia đánh giá phải tuân thủ quy định: i) Đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng bao gồm tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã và đã được trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong năm đánh giá hoặc năm trước liền kề năm đánh giá; ii) Số lượng đối tượng tham gia đánh giá sự hài lòng hằng năm của mỗi đơn vị cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn nhưng tối thiểu phải đạt từ 15% trở lên số lượt thủ tục hành chính tại cấp xã đã được giải quyết và trả kết quả của năm trước liền kề năm đánh giá.

Trường hợp gửi hoặc phát Phiếu lấy ý kiến tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân trả lời đầy đủ nội dung và yêu cầu của Phiếu lấy ý kiến khi tiếp nhận hồ sơ hoặc khi trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của tổ chức, cá nhân. Khi trả kết quả, công chức yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp Phiếu lấy ý kiến vào thùng, hòm đựng phiếu đặt tạ Bộ phân tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trường hợp gửi hoặc phát Phiếu lấy ý kiến theo cách thức điều tra thì cán bộ điều tra có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân trả lời đầy đủ nội dung và yêu cẩu của Phiếu; thu nhận, tổng hợp phiếu và bàn giao đầy đủ cho công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã để xử lý, tổng hợp kết quả theo quy định.

Câu 90. Vừa qua, có một số Sở Tư pháp kiến nghị cần có hướng dẫn cụ thể nguyên tắc “kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là tiêu chí đánh giá phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh; đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; là tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm của chính quyền cấp xã? Vậy hướng thực hiện quy định này tới đây như thế nào?

Trả lời:

Năm 2017, Bộ Tư pháp đã có văn bản gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị hướng dẫn thực hiện nội dung kết quả xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là tiêu chí đánh giá phường, thị trấn đạt chuẩn đô thi văn minh; đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh, là tiêu chí đánh giá thi đua, khen thường hằng năm của chính quyền cấp xã (Công văn số 2873/BTP-PBGDPL ngày 15/8/2017).

Để thực hiện thống nhất, hiệu quả các nội dung nêu trên cần tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan. Tuy nhiên, nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được triển khai thực hiện lần đầu trên phạm vi cả nước, Bộ Tư pháp  rất chú trọng chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện theo tinh thần vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc thực tế. Trước mắt các địa phương cần tập trung nguồn lực để thực hiện tốt nhiệm vụ nhằm phục vụ cho việc  đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, góp phần thực hiện toàn diện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành nêu trên để có chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện nguyên tắc nêu trên.

 

Nguồn: Bộ Tư pháp
https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/cau-chuyen-phap-luat.aspx

 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Lâm Sáng Tươi - Giám đốc Sở Tư pháp - Trưởng Ban Biên tập
Cơ quan trường trực: Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh
Địa chỉ: Số 4, đường Lê Thánh Tôn, P2, TPTV, tỉnh Trà Vinh
Điện thoại: 0294 3866409   Email: pbgdpltravinh@travinh.gov.vn

Thống kê truy cập
  • Đang online: 3
  • Hôm nay: 50
  • Trong tuần: 492
  • Tất cả: 454200